mở đầu cho nội dung nghiên cứu như vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu…Ở chương 2, chúng ta sẽ tiến hành tham khảo lại những lý thuyết, nghiên cứu trước đây về cấu trúc vốn và giá trị công ty để làm nền tảng cơ sở lý thuyết cho vấn đề cần nghiên cứu. Việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị công ty là việc làm cần thiết để giúp các nhà quản trị có cơ sở trong việc ra quyết định trong việc điều hành nhằm làm tăng giá trị công ty, nhất là đối với các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, vốn được xem là các nhân tố tạo nên phong vũ biểu của nền kinh tế.1 Cấu trúc vốn. Có nhiều định nghĩa về cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn của một công ty. Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để công ty có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Hay nói khác, theo Nguyễn Minh Kiều (2009) cơ cấu vốn (capital structure) là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng nguồn vốn của công ty.1 Mô tả về cấu trúc vốn. Nợ ngắn hạn Vốn nợ Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu Tài sản Vốn cổ phần ưu đãi Tổng nguồn vốn Vốn chủ sở hữu Vốn cổ phần thường Cổ phiếu phổ thông Lợi nhuận giữ lại Trang 4 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội Các lý thuyết về cấu trúc vốn. Theo Brigham và Houston (2009) được chuyển thể Việt ngữ bởi Nguyễn Thị Cành thì dưới góc độ là nhà quản trị công ty thì cấu trúc vốn là một trong những vấn đề quan trọng trong việc quản trị. Các nhà quản trị luôn đặt ra bài toán về việc tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu.
- Cấu trúc vốn tối ưu là cơ cấu vốn mà tại đó giá trị cổ phiếu được tối đa hóa. Trên thực tế, các nhà quản trị công ty thường xem cấu trúc vốn tối ưu khi tỷ lệ nợ nằm trong khoảng từ 40% đến 50%. - Từ cấu trúc vốn tối ưu, các công ty thiết lập một cơ cấu vốn mục tiêu. Đó là sự kết hợp giữa nợ vay, cổ phần ưu đãi, cổ phần phổ thông mà công ty hoạch định để huy động thêm vốn.
- Việc xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu sẽ liên quan đến việc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Rủi ro do sử dụng thêm nhiều vốn vay hay gia tăng tỷ lệ đòn bẩy. Ngược lại, việc gia tăng tỷ lệ đòn bẩy sẽ tiết kiệm được chi phí từ là chắn thuế so với việc sử dụng vốn chủ sở hữu. Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn.
Trong nghiên cứu này, có 4 lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn và giá trị công ty được đề dùng làm cơ sở nghiên cứu bao gồm: Lý thuyết M&M, Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, Lý thuyết trật tự phân hạng, Lý thuyết chi phí đại diện. Theo Modigliani và Miller (1958), nội dung cơ bản của lý thuyết M&M được phát biểu thành 2 mệnh đề. Mệnh đề (I) đề cập đến giá trị công ty. Mệnh đề (II) đề cập đến chi phí sử dụng vốn.
Các giả định của lý thuyết M&M. - Thị trường vốn mà công ty đang hoạt động được xem là thị trường hoàn hảo. - Các cá nhân và công ty đều có thể vay vốn với lãi suất bằng nhau. - Không có các chi phí: giao dịch, phá sản và khó khăn tài chính.
Trang 5 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội a. Trong điều kiện không có thuế. Giá trị công ty có vay nợ (VL) và giá trị công ty không có vay nợ (V U) bằng nhau: VU = VL. Nói cách khác, trong điều kiện không có thuế thì cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu (D/E) không ảnh hưởng đến giá trị công ty.
Do đó, trường hợp này không tồn tại cấu trúc vốn tối ưu và đứng trên góc độ quản trị công ty thì nhà điều hành không thể thay đổi giá trị công ty bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Trong điều kiện có thuế. Trong điều kiện này, chúng ta sẽ xem xét giá trị công ty thay đổi như thế nào khi tỷ số D/E thay đổi. Phát biểu mệnh đề (I) “ Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty thì giá trị công ty có vay nợ bằng với giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế”.
VL = VU + t*D Với VU là giá trị của công ty trong trường hợp sử dụng 100% vốn chủ sở hữu; VL là giá trị của công ty trong trường hợp có vay nợ; t là thuế suất thuế thu nhập công ty; D là nợ vay; rD là lãi vay; rE là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu và t*D là hiện giá của lá chắn thuế. Trường hợp không có thuế. Nếu không có thuế thu nhập công ty thì lợi nhuận yêu cầu trên cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ (D/E). Trường hợp có thuế.
Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty thì lợi nhuận yêu cầu trên cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ (D/E), mối quan hệ này được thể hiện qua công thức sau đây: rE = rU + (rU – rD)*(1 – t)*(D/E) 2.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The trade-off theory). Trang 6 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội Theo Bradley (1984), lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng một cấu trúc vốn được xem là tối ưu khi tăng giá trị nợ vay thì giá trị hiện giá của lá chắn thuế tăng thêm của giá trị hiện giá chi phí khốn khó tài chính. Khốn khó tài chính xảy ra khi cam kết giữa công ty và các chủ nợ không thể thực hiên được. Nguy cơ lớn nhất của khốn khó tài chính là có thể dẫn đến tình trạng phá sản vì công ty phải đối mặt với những khốn khó về tài chính trong hiện tại hoặc tương lai.
Khi đó, giá trị công ty (GTCT) trong trường hợp có vay nợ được xác định như sau: GTCT vay nợ = GTCT không vay nợ + Hiện giá lá chắn thuế - Hiện giá chi phí khốn khó tài chính. Trong đó: hiện giá của chi phí khốn khó tài chính phụ thuộc vào xác suất xảy ra và tính nghiêm trọng của các chi phí sinh ra khi bị khốn khó tài chính.2 Lý thuyêt đánh đổi cấu trúc vốn (The trade-off theory). Nguồn Brigham và Houston (2009) được chuyển thể Việt ngữ bởi Nguyễn Thị Cành. Theo lý thuyết The Trade-off thì cấu trúc vốn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau.
Lợi nhuận được xem có mối quan hệ đồng biến (cùng chiều) với cấu trúc vốn. Trên thực tế, chúng ta dễ dàng nhận thấy đứng về phía góc độ người cho vay (ngân hàng, các tôt chức tín dụng, các định chế tài chính…) thì những công ty làm ăn có hiệu quả, có lợi Trang 7 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội nhuận cao thường tạo được niềm tin và dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay hơn. Ngược lại, khi dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay thì bản thân công ty cũng muốn gia tăng tỷ trọng nợ (D/E) để tận dụng được lá chắn thuế đối với lãi vay. (2) Quy mô công ty.
Quy mô công ty được xem có mối quan hệ đồng biến (cùng chiều) với cấu trúc vốn. Mối quan hệ đồng biến này xuất phát từ quan điểm những công ty có quy mô lớn thì khó có thể rơi vào tình trạng khó khăn nên họ tạo được nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn vay. (3) Tài sản cố định hữu hình. Tài sản cố định hữu hình được xem có mối quan hệ đồng biến (cùng chiều) với cấu trúc vốn.
Lý giải cho mối quan hệ này, đơn giản vì tài sản cố định hữu hình có thể được xem là tài sản thế chấp trong việc vay vốn. (4) Chi phí khốn khó tài chính. Chi phí khốn khó tài chính có mối quan hệ nghịch biến với cấu trúc vốn công ty. Theo lý thuyết Trade-off thì việc gia tăng tỷ lệ nợ vay (D/E) đến một mức nào đó sẽ phát sinh chi phí khốn khó tài chính.
Nếu chi phí khốn khó tài chính quá cao thì sẽ làm mất đi hiệu quả mang lại của việc vay nợ. (5) Lợi ích từ lá chắn thuế lãi vay. Lợi ích từ lá chắn thuế lãi vay có mối quan hệ đồng biến (cùng chiều) với cấu trúc vốn công ty. Đơn giản vì việc vay nợ sẽ tận dụng được lợi ích từ lá chắn thuế lãi vay.
Vay nợ càng nhiều thì lợi ích càng lớn.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory). Theo Myers và Majluf (1984) nếu các công ty cần thêm nguồn vốn để tài trợ cho các dự án mới trong hoạt động kinh doanh thì họ thích sử dụng lợi nhuận để lại cho việc tái đầu tư vì như vậy sẽ không làm phát đi những tín hiệu sai lệch ảnh hưởng làm giảm giá cổ phiếu. Nếu lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư không đủ tài trợ cho các dự án kinh doanh thì công ty sẽ sử dụng các nguồn tài trợ từ bên ngoài (vay nợ, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…). Nhưng khi đó, công ty sẽ ưu tiên vay nợ trước khi tính đến các phương án khác Trang 8 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội như phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
Việc vay nợ bằng phát hành trái phiếu thông thường sẽ được ưu tiên hơn việc phát hành trái phiếu chuyển đổi. Theo lý thuyết The Pecking order thì cấu trúc vốn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau. Lợi nhuận công ty có mối quan hệ nghịch biến (ngược chiều) với cấu trúc vốn công ty. Vì theo lý thuyết thì thứ tự tài trợ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh là lợi nhuận để lại, nợ vay và vốn chủ sở hữu.
Nên những công ty có lợi nhuận cao thường sử dụng lợi nhuận để lại để tài trợ cho hoạt động kinh doanh hơn là vay nợ. (2) Quy mô công ty.