Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VE NANG LỰC CẠNH TRANH SAN PHAM VÀ KINH NGHIEM QUOC TE VE NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh sản phẩm 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là xu thế tất yếu của kinh tế xã hội. Trên thực tế cuộc sống, con người luôn cố gắng vươn lên làm chủ cuộc sống của minh theo nhiều phương diện khác nhau.
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, những người tham gia lĩnh vực này thể hiện ý thức vươn lên của mình ở mong muốn đạt được những mục tiêu sản xuất, kinh doanh của mình cũng như khát khao vượt qua các đối thủ của mình dé trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực đó. Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh được cho là yếu tố khắc nghiệt nhất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trước đây, đã có một số khái niệm về cạnh tranh được đưa ra dưới những góc độ khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, xã hội. Trong giai đoạn Chủ nghĩa Tư bản phát triển vượt bậc, Mác đã đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá dé thu được loi nhuận siêu ngạch.
Sau khi Chủ nghĩa Tư bản phát triển đến đỉnh điểm thành Chủ nghĩa Dé quốc rồi suy vong, ngày nay xu hướng chính của nền kinh tế thế giới là mở cửa, hội nhập hai hòa gitra các nên kinh tế, hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường đặt dưới sự quản lý, điều tiết của các Nhà nước. Trong bối cảnh đó, khái niệm cạnh tranh không còn mang tính giai cấp, song về bản chất, cạnh tranh vẫn được coi là sự đấu tranh gay gắt giữa các tô chức, doanh nghiệp nhằm giành lấy ưu thế, điều kiện thuân lợi và đạt được mục tiêu trong sản xuất, kinh đoanh. Cũng tồn tại một định nghĩa khác về cạnh tranh, đó là: “Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận”. Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng tựu trung lại, có thể hiểu Cạnh tranh là sự ganh dua, dau tranh gay gat, quyết liệt giữa những chủ thé cùng tham gia hoạt động kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa nào đó nhằm giành khách hàng, qua đó nâng cao số lượng hàng hóa được tiêu thụ cũng như lợi nhuận, tạo nên cơ sở thuận lợi dé thúc đẩy hoạt động sản xuất và tiêu thụ.
Từ khái niệm này, có thể thấy cạnh tranh đem lại lợi ích cho chủ thể kinh doanh này, song cũng có thể gây thiệt hại cho chủ thể khác. Xét về phương diện xã hội, nhìn chung cạnh tranh đem lại tác động tích cực thể hiện ở việc góp phần day manh viéc phan bổ các nguồn lực một cách tối ưu. Nói cách khác, cạnh tranh trở thành một động lực dé thúc đây nền kinh tế đi lên. Dé tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường, chủ thé kinh doanh phải chấp nhận cạnh tranh, phải cố gang dé nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm giành được ưu thé nào đó so với đối thủ.
Nếu một chủ thể không sẵn sảng cho cạnh tranh, không giành được ưu thế hay tự thỏa mãn với bản thân thì sớm muộn sẽ phải rời khỏi thị trường. Trong quá trình cạnh tranh, dé giành được ưu thé, các chủ thé sản xuất, kinh doanh phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau nhằm củng có, phát triển vị thế của mình trên thị trường mà mình tham gia. Các biện pháp này phản ánh sức mạnh, ưu thé tương đối của chủ thé về một khía cạnh nào đó. Sức mạnh, ưu thế đó chính là khả năng hay năng lực cạnh tranh của chủ thê.
Đối với sản phẩm, khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của một mặt hàng, cần xem xét dưới những cấp độ khác nhau như cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp, ở cấp độ ngành hay ở cấp độ một quốc gia. Ở cấp độ quốc gia, theo quan điểm của Michael E. Porter đưa ra năm 1990, năng lực cạnh tranh sản phâm của một quốc gia là khả năng đạt được năng suất lao động cao và tăng liên tục. Đề đạt được mục tiêu đó, vai trò của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng bởi năng suất lao động của một quốc gia phụ thuộc vào năng suất của doanh nghiệp.
Muốn nâng cao nâng suất lao động của quốc gia, phải cải thiện năng suất lao động của từng doanh nghiệp băng cách nâng cao chất lượng hàng hóa, cải tiến kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất. của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Những yêu cầu của thị trường có thé kế đến bao gồm chất lượng, hình thức, tinh năng của sản phẩm, mức giá, thương hiệu. Như vậy, năng lực cạnh tranh sản phẩmở cấp độ một quốc gia có thé hiểu là khả năng của quốc gia đó trong việc đưa ra các mặt hàng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đảm bảo phân bổ các nguồn lực, đạt được mức tăng trưởng cao và duy trì được tốc độ tăng trưởng ôn định.
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một mặt hàng được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà mặt hàng đó dựa vào để duy trì, củng cố và phát triển vị trí của mình trên một thị trường trong thời gian dài. Năng lực cạnh tranh đó thê hiện ở vi trí của sản phẩm trên thị trường: Sản pham nào có vi tri càng cao, được chấp nhận rộng rãi bởi người dùng tức là sản phâm đó có năng lực cạnh tranh cao hơn. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm gắn liền với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và của quốc gia tham gia kinh doanh hàng hóa đó. Một quốc gia, ngành hay doanh nghiệp có sức cạnh tranh đối với một sản phẩm thấp thì sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường cũng sẽ thấp, đồng nghĩa với chỗ đứng của hàng hóa đó trên thị trường cũng thấp.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm - Sửn lượng tiêu thụ và doanh thu Sản lượng tiêu thụ và doanh thu của hàng hóa là một trong những tiêu chí quan trọng hàng dau, mang tính chất tuyệt đối và dé xác định đề đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa. Sản phâm có doanh thu lớn là sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao và dé dàng được tiêu thụ trên thị trường. Một sản phẩm có sức cạnh tranh kém sẽ có mức tiêu thụ yếu hơn. Sản lượng tiêu thụ của một mặt hàng cũng phản ánh mức độ hài lòng của người tiêu ding: Chỉ khi sản phẩm đáp ứng được các nhu cau, thị hiếu tiêu dùng của đa dạng khách hàng thì sản phâm đó mới dễ dàng được tiêu thụ và đạt doanh thu cao.
Điều đó đồng nghĩa với việc mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thường tỉ lệ thuận với sản lượng tiêu thụ và doanh thu, phản ánh rõ nét sức cạnh tranh của hàng hóa. Doanh thu của một loại hàng hóa được tính như sau: TR = > Pi X Qi i=1 Trong do: TR: Doanh thu Pi: Giá cả của một đơn vị sản phẩm i Qi: Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm 1 n: Số nhóm sản phẩm được tiêu thụ - Thị phân Thị phần (market share) của một loại hàng hóa là tỉ lệ phần trăm về thị trường mà hàng hóa đó nắm giữ so với tổng quy mô thị trường hàng hóa đó. Sản phẩm nào có thị phần lớn hơn phản ánh mức độ thành công cao hơn, có sức ảnh hưởng lớn hơn trên thị trường, đồng nghĩa với việc có sức cạnh tranh cao hơn. Sản phẩm có thị phần nhỏ hơn thể hiện sức cạnh tranh kém hơn và do đó mức độ thành công cũng hạn chế hơn, sức ảnh hưởng cũng kém hơn.
Đề có thé củng cô và nâng cao vị thé trên thị trường, sản phẩm phải đáp ứng đòi hỏi của khách hang và tạo ra lợi thế riêng trong cạnh tranh với các sản phẩm khác. Thị hiếu, nhu cầu của khách hang rất đa dạng và luôn luôn thay đổi, dé chiếm lĩnh được thị trường và nâng cao được thị phần, sản phẩm phải kịp thời đáp ứng thị hiếu, nhu cầu đó, thé hiện ở các mặt: (i) Nhanh hơn đối thủ trong việc đáp ứng sự thay đổi của khách hàng về nhu cầu, thị hiếu tiêu ding. Nói cách khác, sản phẩm phải đi trước đối thủ một bước so với đối thủ cạnh tranh; (ii) Lựa chọn chính xác nhóm đối tượng khách hang có lượng cầu và thị hiếu phù hợp với sản phẩm của mình. Có như vậy, sản phẩm sẽ dễ dàng tiếp cận khách hàng tiềm năng và dễ dàng được tiêu thụ trên thị trường.
- Chỉ phí sản xuất và giá cả Chi phí sản xuất (giá thành) của sản phẩm là giá trị của tat cả các yếu tô đầu vào hình thành nên sản phẩm như: nguyên vật liệu, nhân công, công nghệ sản xuất. Giá thành của sản phẩm là căn cứ quan trọng để xác định được giá bán trên thị trường. Do vậy, muốn có giá bán sản phẩm thấp thì doanh nghiệp phải tìm các hạ giá thành tức là phải tận dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có như tài nguyên phong phú nguồn nhân lực déi dào, đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý. có như vậy mới hạ được giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Khả năng cạnh tranh về chỉ phí sản xuất phụ thuộc vào tất cả các khâu của quá trình, bao gồm sản xuất, thu mua, vận chuyền, chế biến, kho bãi. Bat cứ khâu nào còn tồn tại bat cập, thiếu hiệu quả sẽ làm gia tăng chi phí và đồng thời giảm khả năng cạnh tranh của sản phâm. Khả năng cạnh tranh về chỉ phí là điều cần chứ không phải là điều kiện đủ đối với việc duy trì và mở rộng thị phần vì sức cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thông tin, năng lực marketing, khả năng đối phó rủi ro. Nói cách khác, chi phí thấp mới chỉ là sự khởi đầu chứ không phải yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh.
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cau tức là thông qua sự thoả thuận giữa người mua và người bán dé đi tới mức giá mà cả hai bên đều thấy có lợi và chấp nhận được.