Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Hà Nội giai đoạn 2005-2010 Chương 3: Các quan điểm và giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội trong giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Một số vấn đề về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: 1. Năng lực cạnh tranh: 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh a) Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh: Hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường. Trong lịch sử kinh tế, cạnh tranh cũng đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tập trung ở một số lý thuyết và trường phái tiêu biểu sau: * Lý thuyết của trường phái Cổ điển: Cạnh tranh được nghiên cứu đầu tiên bởi trường phái trọng nông với lý thuyết “giá tự nhiên”, giá cả biến động quanh “giá tự nhiên”. Khi xuất hiện một sự bất thường nào đó, thì giá thị trường có thể chênh lệch với “giá tự nhiên” trong một thời gian ngắn. Trong trường hợp đó, cạnh tranh sẽ hoạt động tích cực để điều chỉnh bên cung và làm cho giá thị trường trở lại mức của “giá tự nhiên”.
Adam Smith đã tiếp thu những nội dung này và phát triển thành lý thuyết “bàn tay vô hình”. Adam Smith chính là người đầu tiên đưa ra những lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh. Thông qua cơ chế thị trường, việc tận dụng tự do cạnh tranh để theo đuổi lợi ích riêng dẫn đến việc mỗi chủ thể kinh tế sẽ nhận được những thành quả mà họ đã cống hiến cho thị trường. Như vậy, sự hài hòa về lợi ích riêng của từng cá nhân trên thị trường được hình thành thông qua sự sắp đặt của “bàn tay vô hình”.
Mô hình cạnh tranh của trường phái cổ điển có thể được hiểu như một quá trình điều phối không có sự điều khiển của nhà nước. Tuy vậy, mô hình cạnh tranh của họ không đồng nghĩa với chính sách “laisser- fair” (để cho doanh nhân tự do hoạt động, Nhà nước không cần phải can thiệp) như nhiều người nhầm lẫn, mà đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra và bảo đảm một trật tự pháp lý thuận lợi cho cơ chế cạnh tranh có thể vận động được. Mác không có lý thuyết cạnh tranh riêng, mà ông đặt cạnh tranh trong lý thuyết giá trị thặng dư và cạnh tranh chủ yếu là giữa những người sản xuất. Cạnh tranh diễn ra ở ba bình diện: cạnh tranh giá thành; cạnh tranh chất lượng; cạnh tranh giữa các ngành.
Nhìn chung, lý luận cạnh tranh của Mác thể hiện ở 4 nội dung cơ bản: (i) Quy luật cạnh tranh là quy luật cùng tác động với quy luật giá trị thặng dư; (ii) Cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dư tương đối; (iii) Cạnh tranh thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất; (iv) Cạnh tranh là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận. * Lý thuyết của trường phái Tân Cổ điển: Sự hài hòa về lợi ích trong lý thuyết của Adam Smith đã được trường phái Tân Cổ điển tiếp thu, nghiên cứu và xác định những điều kiện để có thể tạo ra sự tương ứng giữa lợi ích riêng và lợi ích tổng thể trong xã hội. Kết quả những cố gắng của các nhà kinh tế theo trường phải Tân Cổ điển này đã mang lại mô hình cân bằng của cạnh tranh hoàn hảo. Theo họ, cạnh tranh hoàn hảo có những đặc điểm sau: (i) Quyền sở hữu được xác định rõ ràng (ii) Có một số lượng người bán và người mua rất lớn; do, vậy không có một người bán hoặc người mua có khả năng khống chế được giá cả.
(iii) Tất cả các doanh nghiệp đều có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. (iv) Tự do tham gia hay rút lui khỏi thị trường, chi phí cho việc này là không lớn. (v) Hàng hóa được giao dịch trên thị trường là hàng hóa thuần chủng (vi) Thông tin trên thị trường phải tường minh. Như vậy, nội dung về cạnh tranh của trường phải Tân Cổ điển chủ yếu là những vấn đề liên quan đến lý thuyết giá và cạnh tranh bằng giá.
Vì thế, lý thuyết này, trên thực tế đã không thể phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ các mối quan hệ trên thị trường, kể cả mối quan hệ giữa người bán với người mua, hoặc giữa những người bán hay giữa những người mua. Đối lập với phạm trù cạnh tranh hoàn hảo là phạm trù độc quyền. Hình thái thị trường độc quyền là hình thái của thị trường, mà trong đó chỉ có một người bán (độc quyền bán) hoặc một người mua (độc quyền mua); hoặc chỉ có một người bán và một người mua (độc quyền bán và mua). Trong hình thái 7 thị trường này, phía độc quyền nắm được mọi quyền lực trong các hoạt động trên thị trường, do đó không xuất hiện hiện tượng cạnh tranh.
* Lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh mang tính độc quyền: Mô hình cạnh tranh không hoàn hảo hoặc cạnh tranh mang tính độc quyền là phạm trù thứ 3 giữa 2 cực là độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo. Sự khác biệt của nó so với 2 phạm trù kia là ở chỗ mô hình này thiếu một số nhân tố hoàn hảo (những tiêu chuẩn cho một thị trường hoàn hảo là: tối đa tính sử dụng của bên cầu; tối đa lợi nhuận của bên cung; hàng hóa thuần chủng; không có sự ưu tiên cho cá nhân hoặc thời điểm nào; thị trường được coi như một điểm; sự hoàn hảo cho tính tường minh của thị trường; phản ứng của các thành viên thị trường cực kỳ nhanh nhạy) hoặc nhân tố độc quyền của thị trường. Cạnh tranh mang tính độc quyền, theo nghĩa rộng, là cạnh tranh trên những thị trường với một số ít đơn vị cung [29]. Trên thực tế, ở bất kỳ lúc nào, hầu hết các thị trường đều là thị trường với những hàng hóa tạp chủng do nhu cầu của xã hội luôn luôn đa dạng, đòi hỏi phải cung cấp những hàng hóa và dịch vụ khác nhau về chất lượng, mẫu mã, giá cả.
Những sự khác biệt (khác biệt giá, khác biệt vùng, khác biệt về thời gian, khác biệt về con người…) trên cơ sở lý thuyết về cạnh tranh mang tính độc quyền đã tạo cơ sở cho các doanh nghiệp có thêm nhiều phương pháp để xây dựng chiến lược marketing khác nhau phù hợp với vị thế của mình trên thị trường, đồng thời phù hợp với hình thái thị trường [30]. * Lý thuyết cạnh tranh hiệu quả: Lý thuyết này được hình thành vào đầu những năm 40 trên cơ sở luận điểm “lấy độc trị độc” của John Maurice Clark là: những nhân tố không hoàn hảo trên thị trường có thể được sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác [27]. Luận điểm của Schumpeter - Nhà kinh tế học người Mỹ, gốc Áo (1883- 1950), giáo sư trường ĐH Harvard - về cạnh tranh đã ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến sự phát triển tiếp theo của lý thuyết cạnh tranh. Ông ta cho rằng, phải cạnh tranh bằng sản phẩm mới, bằng kỹ thuật mới, bằng nguồn cung ứng 8 mới và hình thức tổ chức mới.
Cạnh tranh vì thế theo ông chính là: “sự phá hủy mang tính sáng tạo”[28]. Tóm lại, nội dung cơ bản của lý thuyết cạnh tranh hiệu quả là phân biệt rõ những nhân tố không hoàn hảo nào là có ích, nhân tố nào là có hại cho chính sách cạnh tranh và nhận biết được điều kiện nào là điều kiện cần hoặc/và đủ cho tính hiệu quả của cạnh tranh trong nền kinh tế. Sự sống luôn luôn vận động và phát triển cùng với quy luật cạnh tranh tất yếu để tồn tại. Cạnh tranh là động lực và cũng chính là phương thức để xã hội đi lên.
Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt [25]: Cạnh tranh là sự giành giật nhau để chiếm phần thắng”. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm giành giật điều kiện sản xuất và nơi tiêu thụ có lợi nhất đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Sau Đại hội VII của Đảng, thuật ngữ cạnh tranh theo pháp luật hay cạnh tranh lành mạnh đã được sử dụng: cạnh tranh (Competition) là sự tranh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường hoặc khách hàng. Thực chất, đó là sự tranh đua giành ưu thế hay giành độc quyền thị trường mua và thị trường bán hàng hóa, dịch vụ… Mục đích trực tiếp của các hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố “đầu vào” của các chu trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao mức giá “đầu ra” sao cho với chi phí thấp nhất mà vẫn có thể có được mức lợi nhuận cao nhất.
Bởi vậy thực chất của cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ (mua và bán) đó cũng chính là con đường, phương thức để giành lấy lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường. Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao 2 lưỡi. Một mặt, nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có chất lượng kém.
Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của các sản phẩm, dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển 9 trên thị trường. Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải tăng cường sức cạnh tranh của mình lên đồng thời phải thay đổi mối tương quan về thế và lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh. Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh do vậy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với doanh nghiệp là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.