Chương 1 NHUNG VAN DE CƠ BAN VE CHAT LƯỢNG NGUÒN NHÂN LUC TRONG CAC DOANH NGHIEP 1.1 NGUON NHAN LUC VA CHAT LUGNG NGUON NHAN LUC 1.1 Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức đó. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực con người, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính [09]. Như vậy nguồn nhân lực là tài sản đầu tiên cùng với vốn, tài sản dé đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực là tài nguyên quý báu nhất và là một lợi thế cạnh tranh mang tinh chất quyết định của doanh nghiệp.
Hay, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thẻ chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động [3]. Thể lực của con người thể hiện qua tình trạng sức khoẻ của thân thể, sức vóc, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian làm việc và giới tinh. Trí lực của con người thé hiện qua kha năng suy nghĩ, sự hiểu biết, năng khiếu, tài năng, quan điểm, lòng tin, nhân cách, khả năng đúc kết kinh nghiệm và phát triển kiến thức.
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu về số lượng này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tăng trưởng của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, tốc độ tăng trưởng càng cao cũng sẽ dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.
Về chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chit. Vi nguồn nhân lực cũng như các nguồn lực khác của doanh nghiệp như vốn và tài sản biến động theo thời gian, do vậy nguồn nhân lực của doanh nghiệp cũng được xem xét trong những khoảng thời gian nhất định. Với sức lao động là khả năng lao động được biểu hiện ở thể lực và trí lực của người lao động. Do vậy, nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải được biểu hiện trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.2 Tổ chức và kết cấu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Tổ chức là sự thống nhất trong kết cấu theo một trình tự và quy tắc nhất định, quan hệ tương hỗ giữa con người, chức quyền, chức năng làm thành kết câu tổ chức.
Mục đích của công tác tổ chức là khiến cho sự hợp tác của con người ngày càng hiệu quả. Vì khả năng quản lý của mỗi con người là có hạn nên xuất hiện vấn đề tầm quản lý từ đó làm nảy sinh vấn đề cấp quản lý. Tầm quản lý cho thấy rõ số người do một người quan lý có thé quản lý trực tiếp. Quản lý theo hệ thống cấp bậc của một doanh nghiệp nhiều hay ít nói lên trình độ phức tạp theo hệ thống dọc của kết cấu tổ chức doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp lớn có thể có năm bẩy cấp, doanh nghiệp nhỏ có thể chỉ có vài ba cấp. Nói chung, cấp bậc quản lý và tầm quản lý có quan hệ chặt chẽ với 7 nhau, thường thì tầm quản lý rộng thì cấp quản lý ít, và ngược lại, tầm quản lý hep thì cấp quản lý nhiều, tất nhiên còn phụ thuộc vào quy mô về số lượng nhân lực trong một tổ chức. Hình thức tổ chức sản xuất của một doanh nghiệp quyết định trình độ chuyên nghiệp hoá của doanh nghiệp đó. Chọn dùng hình thức tổ chức sản xuất nào quyết định phương pháp phân chia bộ phận của doanh nghiệp, cũng quyết định luôn sé bộ phận và số chức danh nhiều hay ít.
Hình thức thường thấy của doanh nghiệp bao gồm tổ chức sản xuất theo chức năng, tổ chức sản xuất theo sản phẩm và tô chức sản xuất hỗn hợp. Tập quyền và phân quyền là hai mặt của hệ thống, trong bất cứ doanh nghiệp nào, tập quyền và phân quyền cũng là tương đối, không có tập quyền tuyệt đối, cũng không có phân quyền tuyệt đối. Doanh nghiệp khác nhau do tính chất hoạt động kinh doanh khác nhau, kết câu nhân viên khác nhau, bộ phận trung tâm, chủ yếu cũng khác nhau. Xác định rõ bộ phận chủ yếu, làm rõ chức năng, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho việc kết cấu tổ chức phù hợp dé sao cho toàn bộ nguồn lực có khả năng hỗ trợ được bộ phận trung tâm, chủ yếu đó.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, những thành tựu lớn lao của khoa học kỹ thuật làm người ta hy vọng lực lượng sản xuất sẽ phát triển mạnh mẽ, tổ chức sản xuất sẽ mau chóng hoàn thiện, kinh tế sẽ phon vinh. Các nước công nghiệp đưa ra triết lý: “Công nghiệp là trung tâm, tự động hoá là chìa khoá của sự phén vinh” [16]. Hàng loạt nước định hướng vào đổi mới trang thiết bị công nghệ trong khi vẫn giữ nguyên cách tổ chức lao động truyền thống. Nhân công được coi như yếu tố hao phí sản xuất.
Nhưng mô hình của chiến lược này đã thất bại. Từ thực tế sản xuất cho thấy, con người sáng tạo ra công nghệ mới, nhưng vì thiếu đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng tương ứng, không kịp đổi mới cơ chế quản lý, điều hành dẫn đến không phát huy § hiệu quả sản xuất, cho dù doanh nghiệp được trang thiết bị hiện đại tiên tiến. Từ bài học này, các nước đã thay đổi căn bản các chiến lược phát triển của mình, trong đó điểm quan trọng là tìm kiếm mô hình mới nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả nguôn nhân lực. Triết lý kinh doanh chuyền từ coi công nghệ là trung tâm sang coi con người là trung tâm với những ưu tiên tri thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Như vậy, sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã không làm giảm đi vai trò của nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng mà còn trở thành lợi thế cạnh tranh mang tính chất quyết định cho mọi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện đại với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức. Chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong sự phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi vai trò đó bắt nguồn từ vai trò của yếu tố con người.
- Con người là động lực của sự phát triển. Bat cứ một sự phát triển nao cũng đều phải có một động lực thúc day. Phát triển doanh nghiệp được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực. song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thé thông qua nguồn lực con người.
Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thé tách rời nguồn lực con người bởi vì chính con người đã tạo ra những máy móc thiết bị ién dai đó. Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người. Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật chất. Chỉ có tác động của con người mới làm chúng hoạt động.
Vi vậy, néu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực cơ năng và trí năng của con người được huy động vào sản xuất kinh doanh. Trong phạm 9 vi doanh nghiệp, đó là một trong những nguồn lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác nó, sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp. - Con người là mục tiêu của sự phát triển.
Phát triển doanh nghiệp suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ cho những con người trong doanh nghiệp đó. Làm cho cuộc sống của những con người trong doanh nghiệp đó ngày càng tốt hơn. Nhu cầu con người vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tăng lên, nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tỉnh thần càng ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển của doanh nghiệp. - Yếu tố con người trong phát triển Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, mà còn tạo ra những điều kiện đề hoàn thiện chính bản thân con người.
Như vậy động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát trién. Lao động nếu chỉ đề cập tới khía cạnh số lượng thì không mang lại tăng trưởng, chỉ có tiến bộ công nghệ khoa học được lao động ứng dụng hiệu quả mới giải thích được sự gia tăng không ngừng của mức sống. Theo ManKiw "sự đầu tư cho con người trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân làm nâng cao mức sống của toàn xã hội và nhờ đó tạo khả năng tăng năng suất lao động" [115,09].
Đây là nhận định rất quan trọng và trong những thập kỷ gần đây, các nước Châu á có nền kinh tế tăng trưởng cao đã áp dụng quan điểm này vào chiến lược phát triển kinh tế — xã hội của họ. Ở nước ta, nhận thức vai trò động lực của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta lấy việc phát huy yếu tố 10 con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, nguồn lực con người được coi là nội lực cơ bản nhất cần khai thác và phát huy đề tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quan điểm này được thể hiện trong Nghị quyết IX của Đảng: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đây sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người — yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững".