phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 02 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu của đề tài Chƣơng 2: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng dạy học môn Phƣơng pháp hƣớng dẫn trẻ mầm non hoạt động tạo hình tại Trƣờng TCSP Mẫu giáo – Nhà trẻ Hà Nội 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Mỹ thuật và một số khái niệm liên quan Theo Từ điển Thuật ngữ mĩ thuật phổ thông, mĩ thuật là “từ dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật tạo hình nhƣ hội họa, đồ họa, điêu khắc, kiến trúc.
Nói cách khác, từ mĩ thuật (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con ngƣời hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt ngƣời ta nhìn thấy đƣợc,…” [15, tr. Theo đó, mỹ thuật là một loại hình nghệ thuật xuất hiện, phát triển gắn liền với việc làm đẹp. Theo cách hiểu thông dụng, các loại hình mỹ thuật chính là hội họa, điêu khắc và một số hình thức đồ họa tranh in, cũng nhƣ loại hình đồ họa hiện đại có sự kết hợp với yếu tố công nghệ nhƣ phim ảnh, nhiếp ảnh, sản xuất/ chỉnh sửa video, thiết kế tạo dáng công nghiệp và in ấn. Tuy nhiên, trong sự phát triển nhanh chóng của những loại hình nghệ thuật theo nhiều hƣớng biểu đạt đa dạng và phong phú, nhƣ nhiều dạng thức thực hành của nghệ thuật đƣơng đại (nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật video art, nghệ thuật vẽ cơ thể,…) đã làm cho khái niệm mỹ thuật trở nên chật chội, và nếu giữ nguyên tên gọi mỹ thuật thì buộc nội hàm phải mở rộng ra để có thể chấp nhận những hình thức mới của loại hình nghệ thuật này.
Chính vì lẽ đó, khái niệm nghệ thuật thị giác ra đời nhằm để chỉ những hình thức nghệ thuật tác động trực tiếp đến mắt (thị giác) trong quá trình thƣởng thức. Liên quan đến khái niệm mỹ thuật, một số nhà nghiên cứu tiếp tục đặt ra câu hỏi vậy có sự khác nhau gì giữa khái niệm mỹ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng bởi xét cho cùng những sáng tạo trong lĩnh vực này đều hƣớng đến phục vụ con ngƣời với những mục đích khác nhau (có tính đẹp 9 và có giá trị sử dụng hoặc cả hai). Theo đó, ở trong nhiều trƣờng hợp, ngữ cảnh mà chúng ta thấy khái niệm nghệ thuật tạo hình đƣợc sử dụng để xác định cho một số loại hình mỹ thuật xác định đƣợc tính chất vật lý của nó, bởi lẽ nghệ thuật tạo hình đƣợc hiểu là loại hình nghệ thuật tạo ra những sản phẩm/ tác phẩm mà có hình dạng cụ thể phục vụ vào những mục đích khác nhau. Hoạt động tạo hình HĐTH xuất hiện cùng với lịch sử phát triển của loài ngƣời.
Những vật phẩm có tính tạo hình đầu tiên của con ngƣời chính là những dụng cụ lao động, sản xuất bằng đá đƣợc tìm thấy ở những di chỉ khảo cổ nhiều nơi trên thế giới. Trong quá trình phát triển của mình, nhiều sản phẩm tạo hình đƣợc tạo tác, với nhiều chất liệu khác nhau và điều này đã dần hình thành nên cái gọi là khoái cảm thẩm mĩ, nhu cầu thẩm mĩ,… Trong giáo dục mầm non, “hoạt động tạo hình là một dạng hoạt động nghệ thuật nhằm giúp trẻ nhận biết và phản ánh thế giới xung quanh thông qua những hình tƣợng nghệ thuật nhƣng chỉ dừng lại ở mức độ nhằm thỏa mãn nhu cầu, ý thích và phù hợp với khả năng của trẻ mầm non. Hoạt động này là một dạng hoạt động có sản phẩm đặc trƣng mà đối tƣợng thực hiện là trẻ MN. Nó có những dạng hoạt động nhƣ vẽ và tô màu, xé cắt dán, tập nặn, chắp ghép hình, xếp hình,… với mục đích hƣớng dẫn và giúp trẻ làm quen với việc khám phá thế giới xung quanh qua những việc làm có tính định hƣớng, nghệ thuật.
Trong mỗi dạng HĐTH đó, trẻ mầm non có thể thể hiện ấn tƣợng, cảm nhận, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh. Bởi vậy, ở mỗi dạng HĐTH, cần hình thành cho trẻ mầm non một số phƣơng tiện biểu cảm của nghệ thuật tạo hình và cung cấp nguyên liệu riêng để trẻ thể hiện. 10 Hoạt động tạo hình của trẻ mầm non chƣa phải là một hoạt động sáng tạo thực thụ. Quá trình hoạt động và sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non thể hiện các đặc điểm của một nhân cách đang đƣợc hình thành.
Những sản phẩm của hoạt động tạo hình không nhằm mục đích tạo nên những sản phẩm phục vụ xã hội, cải tạo thế giới xung quanh mà mục đích và kết quả to lớn nhất của quá trình hoạt động đó chính là sự biến đổi, phát triển của chính cá nhân trẻ. Bậc học mầm non và trẻ mầm non 1. Bậc học mầm non Theo Luật Giáo dục ban hành năm 2005, điều 21 quy định “giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi” [38]. Điều 25 đã chỉ rõ: Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: 1.
Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; 2. Trƣờng, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; 3. Trƣờng mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. [38] Bậc học này có nhiệm vụ đặt nền móng cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời hay có thể hiểu rằng bậc học mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò cực kỳ quan trọng bởi giai đoạn này việc giáo dục đặt cơ sở nền tảng cho những bậc học tiếp theo.
Nhƣ vậy, giáo dục mầm non phải hƣớng đến đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ trong từng giai đoạn; sự chăm sóc và giáo dục trẻ phải nằm trong một khối thống nhất, bổ sung và hoàn thiện lẫn cho nhau góp phần đặt cơ sở nền tảng ban đầu cho việc hình thành các phẩm chất mới của nhân cách của con ngƣời trong giai đoạn phát triển hiện nay. 11 Ngày 26 tháng 10 năm 2011, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015. Trong đó, đặc biệt quan tâm trƣờng, lớp để đón các cháu dƣới 18 tháng tuổi ở các khu dân cƣ mới, khu công nghiệp; tuyển dụng, hợp đồng giáo viên, nhân viên đối với các trƣờng mầm non công lập để đáp ứng từng bƣớc nhu cầu gửi trẻ dƣới 18 tháng tuổi; Thực hiện các chế độ, chính sách đối với giáo viên mầm non làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, dân lập. Theo đó, thực hiện Chƣơng trình Giáo dục Mầm non mới: quy định mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp chăm sóc giáo dục trẻ dƣới 18 tháng tuổi và chỉ đạo các Sở GDĐT tăng cƣờng hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi nhỏ, để các bậc phụ huynh có thể lựa chọn hình thức nuôi dạy con tại gia đình, góp phần giảm tải cho các nhà trƣờng [37].
- Chƣơng trình Giáo dục mầm non Đây là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non trong cả nƣớc, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi dƣỡng GVMN, tăng cƣờng cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện thực hiện Chƣơng trình Giáo dục mầm non có chất lƣợng. Mục tiêu giáo dục mầm non là “giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một” [38, điều 22]. Nhƣ vậy, mục tiêu giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mầm non của nƣớc ta nhằm từng bƣớc hình thành và hoàn thiện dần những chức năng tâm lí và năng lực chung của trẻ nhƣ là có ý thức về bản thân, tự khẳng định mình theo hƣớng tích cực, mạnh dạn, tự tin, từng bƣớc làm chủ bản thân, độc lập, tự giác, dễ hòa nhập, biết bảo vệ môi trƣờng, có 12 nếp sống văn minh, có hành vi ứng xử giao tiếp phù hợp với những quy tắc chuẩn mực trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị tốt cho trẻ vào trƣờng tiểu học. Trẻ mầm non Về độ tuổi trẻ mầm non, theo Thông tư 01/VBHN-BGDĐT ban hành Chƣơng trình giáo dục mầm non năm 2017 đã quy định: “Đối với trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nếu không mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh bẩm sinh nguy hiểm, đƣợc nhận vào các nhà trƣờng, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập” [36].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi nghiên cứu ở lứa tuổi trẻ mầm non bắt đầu từ 18 tháng tuổi trở lên (giai đoạn nhà trẻ) đến 06 tuổi (giai đoạn Mẫu giáo). Ở lứa tuổi này, hành vi và nhu cầu của trẻ ở các giai đoạn phát triển khác nhau. - Giai đoạn tuổi nhà trẻ (18 tháng đến 3 tuổi) Trẻ gắn bó với ngƣời chăm sóc và phát triển cảm giác yêu thƣơng và tin tƣởng. Trẻ có cảm giác lo sợ khi phải xa cách mẹ, biết phân biệt ngƣời quen và ngƣời lạ.
Qua hoạt động vui chơi, trẻ hiểu nguyên nhân và kết quả ở mức độ đơn giản nhƣ nếu đẩy quả bóng trên sành nhà, thì quả bóng sẽ lăn. Trẻ hiểu về lời nói và làm theo lệnh đơn giản. Qua các hoạt động trong cuộc sống xung quanh, trẻ biết tên một số đồ vật quen thuộc, vài bộ phận trong cơ thể, và khái niệm nhƣ trong/ngoài, hoặc mở/đóng. Ở cuối tuổi nhà trẻ, trẻ dần hình thành khả năng độc lập khi tự chơi một mình trong thời gian lâu.
Ở giai đoạn nhà trẻ, trẻ học di chuyển cơ thể nhƣ ngóc đầu lên, tự ăn, ngồi, đứng, đi. Trẻ học cách sử dụng cùng lúc bàn tay và mắt để thao tác và ném đồ vật. Qua các hoạt động này, trẻ phát triển thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác. 13 - Giai đoạn tuổi mẫu giáo (từ 3 tuổi đến 6 tuổi) Trẻ phát triển ngôn ngữ và hiểu biết bản thân.
Trẻ biết suy nghĩ về những điều kỳ diệu, xa thực tế. Qua những hoạt động đƣợc tổ chức ở lớp, trẻ biết đƣợc việc thực hiện theo các quy tắc nên bắt đầu hiểu hậu quả của việc làm/cảm xúc và phân biệt đúng/sai. Giai đoạn này, trẻ đặt nhiều câu hỏi, hình thành các mối quan hệ giữa bạn bè và thầy cô.