MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đối với một quốc gia có trên 70% dân số là nông dân như Việt Nam, việc phát triển sản xuất nông nghiệp luôn chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn Đại hội Đảng toàn quốc khó XI đã xác định rõ mục tiêu trong nông nghiệp phải: “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới. Trên cơ sở bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế hộ trang trại.” Mọi hoạt động của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đều cần đến vốn tín dụng.
Tuy vốn tín dụng không quyết định tất cả nhưng để đưa nền nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh mẽ, nhất định phải có chính sách hỗ trợ bài bản và cụ thể vốn tín dụng; phải có dự đầu tư thích đáng của nhà nước, của các ngành và hệ thống ngân hàng trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với tên gọi đó tự bản thân nó đã nói lên chức năng và nhiệm vụ của nó là phục vụ nông nghiệp và nông thôn, khách hàng vay và tổng dư nợ của các hộ sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Điều đó đòi hỏi mọi cơ chế, quy định thể lệ, chế độ cho vay hộ sản xuất cần phải được cụ thể hóa và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đơn giản gọn nhẹ song phải an toàn vốn. Một khoản vay được coi là kết thúc, có hiệu quả khi người vay đã trả hết gốc, lãi đúng thời hạn.
Xã Kim Phượng là một xã miền núi, kinh tế chậm phát triển, thực tế nhu cầu về vốn tín dụng là rất lớn song làm thế nào để sử dụng số vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đúng mực đích vay hay không, hay sử dụng vào mục đích vay hay không, hay sử dụng vào mục đích khác, khả năng trả hết gốc và lãi có đúng thời hạn không lại đặt ra một câu hỏi cho người làm tín dụng e 2 và các hộ vay vốn. Vì đầu tư cho sản xuất nông nghiệp khó thu hút hồi vốn, rủi ro cao và hiệu quả kinh tế thấp. Hơn nữa, người nông dân quen với phương thức sản xuất cũ, với tâm lý tiểu nông không mạnh dạn đầu tư sản xuất. Xã cần có chính sách hỗ trợ cụ thể không chỉ vốn mà còn khoa học công nghệ và kinh nghiệm, để nguồn vốn đầu tư cho địa phương sớm đem lại hiệu quả cao.
Trong những năm qua NHNN&PTNT đã đạt được nhiều kết quả khả quan muốn khẳng định và ngày càng củng cố địa vị của mình trên thị trường ngân hàng cần phải đánh giá được những mặt còn hạn chế và nguyên nhân từ đó tìm ra giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, phát triển kinh tế của địa phương nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tới phát triển kinh tế hộ tại xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu. Mục đích, mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thị trường vốn tín dụng nông thôn và sử dụng vốn tín dụng của hộ nông dân vùng nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng trong các hộ nông dân nhằm phát triển kinh tế hộ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Mục tiêu cụ thể của đề tài - Đánh giá thực trạng về tín dụng và phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn taị xã Kim Phượng. - Đánh gía thực trạng sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân tại xã Kim Phượng bao gồm phương thức sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn cũng như tác động của vốn tín dụng đến thu nhập và đời sống. - Đề xuất một số giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế hộ tại xã Kim Phượng. Ý nghĩa của đề tài - Góp phần hệ thống hóa lý luận và các thông tin thực tiễn về kinh tế hộ, về tác động của vốn tín dụng đến đời sống hộ nông dân - Đánh giá về thực trạng tín dụng - Giúp địa phương đưa ra các chính sách và đề suất một số giải pháp ổn định kinh tế cho hộ nông dân.
- Là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc đề suất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHNN & PTNT đối với hộ nông dân xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm a. Khái niệm Tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu và người sử dụng các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và kèm theo lợi tức khi đến hạn.
Có nhiều hình thức tín dụng, nhưng trong điều kiện hiện nay ở nước ta, tín dụng ngân hàng là hình thức phổ biến và được áp dụng rộng rãi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân. Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Đây cũng chính là hình thức tín dụng phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế hộ.
Tóm lại, có thể hiểu tín dụng là hoạt động cho vay (phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay), có bảo đảm, có hoàn trả cả nợ gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Đặc điểm, bản chất của tín dụng Trong quan hệ tín dụng tiền tệ (hàng hóa) không phải là việc bán đi mà là cho vay. Quyền sở hữu không tiền tệ (hàng hóa) không có sự dịch chuyển từ người cho vay sang người đi vay, chỉ có sự thay đổi quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định được thỏa thuận. Khi có phát sinh hiện tượng vay tiền, không tiến hành trao đổi ngang giá, mà là giá trị chuyển dịch đơn phương.
Người cho vay khi cho vay tiền tệ (hàng hóa) không thu được sự ngang giá nào, người đi vay tiền khi đến hạn trả phải trả cả gốc và lãi. Theo Các Mác: “Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiêng không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem e 5 bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định” Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức. Mác viết: “Đem tiền cho vay với tư cách là một việc với đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động” c. Vai trò của tín dụng + Thứ nhất: Vai trò của tín dụng đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Dựa trên lý thuyết hệ thống, kinh tế nông thôn bao gồm một hệ thống các ngành nghề sản xuất và dịch vụ trên địa bàn nông thôn.
Quá trình phát triển kinh tế nông thôn được biểu hiện thông qua các lĩnh vực sau: - Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất của công nghiệp và dịch vụ nông thôn, chuyển từng bước từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ trên nguyên tắc tôn trọng quy luật phát triển sinh học của cây trồng và vật nuôi. - Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn như điện, đường, trường, trạm.Phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của vùng nông thôn. - Đưa những tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và dịch vụ ở nông thôn góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế. - Hoàn thiện mô hình tổ chức sản xuất và quản lý theo hướng hiện đại nhằm tăng hiệu quả của bộ máy quản lý ở nông thôn, giảm bớt các khâu trung gian.
- Hình thành và phát triển nguồn lực tương xứng với yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, trọng tâm là nâng cao dân trí, đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý nông nghiệp. Như vậy, nội dung của việc thực hiện quá trình phát triển nông thôn được tiến hành trên cả hai lĩnh vực kinh tế và xã hội. e 6 * Về mặt kinh tế: phát triển cân đối giữa nông nghiệp hàng hóa với công nghiệp và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng tích cực ưu tiên xuất khấu. * Về mặt xã hội: làm tỷ lệ thất nghiệp, tăng phúc lợi xã hội, nâng cao thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.[5] Để giải quyết các nội dung của quá trình phát triển nông thôn thì cần phải có một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm.Việc huy động một nguồn vốn lớn vào phát triển nông nghiệp nông thôn có thể được huy động bằng mọi nguồn vốn: vốn ngân sách cấp, vốn của doanh nghiệp, vốn của dự án phi chính phủ, vốn tự có của các tổ chức cá nhân, hộ gia đình.Trong những năm qua, vốn đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn mặc dù tăng nhưng cũng chưa đáp ứng được một phần về vốn cho phát triên.[6] Trong các nguồn vốn đưa về đầu tư cho lĩnh vực nông thôn, có thể thấy chỉ có nguồn vốn đầu tư tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn là mang lại hiệu quả và có vai trò quan trọng.
Nó đóng góp vai trò như một yếu tố đầu vào cho quá trình xây dựng và phát triển nông thôn, đến lượt nó lại tạo ra cơ sở vật chất để tác động tương hỗ cho nông nghiệp nông thôn phát triển.