CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về mở rộng vốn từ 1. Khái niệm về từ Cho đến nay, theo thống kê có khoảng hơn 300 định nghĩa về từ, có thể liệt kê dưới đây một số định nghĩa như: Theo Đỗ Thị Thu Hương (2019) đã đưa ra: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [11, tr. Trong khi đó, các tác giả khác như Đỗ Ngọc Thống (2018): Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định và hoàn chỉnh về ý nghĩa.
Hai phần này có mối liên hệ chặt chẽ và đồng thời hỗ trợ cho nhau trong việc biểu hiện ý nghĩa của con người. Từ vựng không chỉ dùng để miêu tả các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, mà còn được dùng để miêu tả các nhóm sự vật và hiện tượng có đặc điểm chung, do đó từ vựng có tính khái quát cao [19, tr.67] Trong tác phẩm "Từ vựng học Tiếng Việt" của Hoàng Phê cho rằng từ trong Tiếng Việt là một đơn vị nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói và có hình thức của một âm tiết, một "chữ" viết riêng lẻ [15, tr. Dù cách định nghĩa có khác do sự khác nhau về cách tiếp cận, nhưng điểm chung của các định nghĩa này là đều coi từ là một đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, có đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp và là chất liệu để cấu tạo nên câu. *Cấu trúc của từ Từ là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm mặt ngữ âm và ý nghĩa.
Hai phần này quan hệ biện chứngvới nhau để biểu hiện ý nghĩa của từ, thể như sau: + Vỏ âm thanh của từ không có mối liên hệ với nghĩa của từ, nói cách khác đó là mối quan hệ võ đoán. Tuy vậy, trong một số trường hợp, người ta 12 vẫn tìm thấy mối liện giữa vỏ âm thanh và ý nghĩa, chẳng hạn, các từ tượng thanh (róc rách, loẹt quẹt, đùng đoàng…), các từ nhiều nghĩa… Trong tiếng Việt, vỏ âm thanh của từ có tính cố định, bất biến. Dù đảm nhiệm chức năng ngữ pháp nào trong câu, từ tiếng Việt cũng không thay đổi về hình thức ngữ âm. Ví dụ: Treo lên cây bưởi hái hoa/Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc…) + Ý nghĩa của từ là mối quan hệ giữa từ và nhận thức của con người về các sự vật và hiện tượng.
Cơ sở để xây dựng ý nghĩa của từ là hình thức phản ánh của con người đối với các sự vật và hiện tượng trong môi trường xung quanh. Ý nghĩa của một từ là sự tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện. Trong trường hợp này, biểu hiện không chỉ là tổ hợp các ngữ âm cụ thể mà còn bao gồm cả hình ảnh tâm lý của chúng, trong khi cái được biểu hiện là tư tưởng. Đối với mỗi cá nhân, nghĩa của từ phát triển tương ứng với trình độ học vấn của cá nhân đó.
Đối với HS, khi tiếp nhận ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật được nhắc đến. Từ vựng là nền tảng, cũng như là vật liệu cơ bản để xây dựng ngôn ngữ. Mỗi người sẽ có một ngôn ngữ riêng, được hình thành từ việc tích lũy một số từ hoặc một kho từ vựng của ngôn ngữ đó. *Chức năng của từ Từ có 2 chức năng cơ bản là: Chức năng định danh: chức năng này có nhiệm vụ gọi tên sự vật, hiện tượng, các hành động của con người, sự vật; nêu lên trạng thái của sự vật, hiện tượng, con người; gọi tên một cách khái quát các đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng, con người.
Dựa vào chức năng này, có thể phân loại từ thành động từ, danh từ, tính từ. Có thể khẳng định rằng, chức năng định danh chính là chức năng cơ bản của từ và nó cũng là kết quả của quá trình nhận thức cảm tính thu được do sự hoạt động của các cơ quan giác quan của con người. 13 Chức năng tạo câu: Chức năng biểu niệm: Chức năng này chính là sự hiểu biết về nghĩa biểu danh của từ. Mọi sự vật, hiện tượng luôn tiềm ẩn trong nó những đặc điểm, trạng thái, tính chất, thuộc tính, tính quy định bên trong của nó, cũng như mối liên hệ, tác động với các sự vật, hiện tượng khác.
Để hiểu đầy đủ các sự vật hiện tượng, rút ra được bản chất, đặc trưng và tính quy luật của chúng đòi hỏi con người phải sử dụng các thao tác về tư duy lý tính như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa. Như vậy, có thể khẳng định rằng, nghĩa biểu niệm chính là kết quả của giai đoạn nhận thức lý tính. Khi hiểu được nghĩa biểu niệm của từ, tức là con người đã chuyển từ giai đoạn nhận thức cảm tính, từ kiểu tư duy trực quan cảm tính lên giai đoạn nhận thức lý tính. Do đó, trong quá trình cung cấp và phát triển vốn từ cho HS, các chủ thể giáo dục cần chú trọng đến phát triển vốn từ biểu niệm cho HS thông qua việc tạo điều kiện để HS vui chơi, hoạt động khám phá thế giới.
Chức năng biểu cảm: đây là chức năng biểu thị cảm xúc, tình cảm, thái độ của người sử dụng, hay nói cách khác nó phản ánh mối quan hệ giữa từ và người sử dụng từ. Chức năng này được biểu lộ rõ hơn khi kết hợp với ngữ điệu của người nói. Vốn từ Theo Từ điển Tiếng Việt, “vốn từ bao gồm toàn thể những từ và các đơn vị tương đương với từ” [15, tr. Với khái niệm này, “vốn từ’’ được hiểu theo nghĩa rộng, tương đương với từ vựng.
Theo Nguyễn Huy Cẩn (2001), vốn từ của một ngôn ngữ là "tổng số từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó được hệ thống hóa". Mỗi ngôn ngữ phát triển đều có vốn từ vựng phong phú, có thể lên tới hàng chục nghìn từ. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều loại từ khác nhau và chia thành nhiều nhóm từ không đồng nhất với các đặc trưng riêng biệt. Trong vốn từ của bất kỳ ngôn ngữ nào, sẽ có những từ mới và những từ cũ, những từ phổ biến và những từ địa phương, những từ chuẩn hoặc vay mượn, cùng với các từ chuyên môn [4, tr.
14 Đối với HS việc lĩnh hội vốn từ chỉ là bước đầu, nên không phải tất cả những từ HS tiếp nhận đều sử dụng ngay được. Vốn từ được HS tiếp nhận ở độ tuổi lớp 3 bậc tiểu học được chia ra làm vốn từ thụ động và vốn từ chủ động, trong đó, vốn từ chủ động là bao gồm những từ mà HS có thể hiểu và sử dụng trong giao tiếp được. Đây chính là cơ sở quyết định đến sự đa dạng, phong phú trong vốn từ của HS. Vốn từ thụ động là vốn từ mà HS hiểu nhưng chưa sử dụng được trong giao tiếp.
Đối với HS, vốn từ thụ động chiếm tỉ lệ cao hơn so với vốn từ tích cực. Trong khi đó, HS cần phải nắm được một lượng từ vựng cần thiết để có thể giao tiếp với mọi người xung quanh và phục vụ quá trình học tập tiếp thu tri thức của nhân loại. Do vậy, phát triển vốn từ cho HS là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển ngôn ngữ mà trường tiểu học phải thực hiện. Mở rộng vốn từ Khái niệm mở rộng vốn từ được một số tác giả quan tâm, tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả nhấn mạnh đến các đặc điểm khác nhau của mở rộng vốn từ.
Trịnh Thị Hà Bắc (2001) nhấn mạnh đến quá trình/cách thức tiến hành và mục tiêu hướng tới của mở rộng vốn từ khi định nghĩa: “mở rộng vốn từ cho HS là việc tổ chức có kế hoạch, khoa học nhằm cung cấp vốn từ, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho HS, giúp HS biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp” [3, tr. Không nhấn mạnh mục tiêu của mở rộng vốn từ, nhưng Nguyễn Xuân Khoa (2003) lại nhấn mạnh đến quá trình/cách thức tác động khi cho rằng: “mở rộng vốn từ cho HS là hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, nhằm giúp HS lĩnh hội vốn từ có hiệu quả” [14, tr. Cũng theo tác giả, mở rộng vốn từ cho HS là cơ sở của phát triển ngôn ngữ. Đơn vị ngôn ngữ đầu tiên sử dụng là từ.
Trường tiểu học có nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho HS không chỉ về số lượng mà về cả chất lượng. Việc dạy học sinh không chỉ là giúp họ biết nhiều từ mà còn phải giúp họ hiểu về các từ, sử dụng chúng đúng cách và loại bỏ những từ không tốt trong lời nói của học sinh. 15 Dựa trên những quan điểm trên, chúng tôi hiểu rằng mở rộng vốn từ hoàn toàn là quá trình sư phạm có mục tiêu và được lên kế hoạch nhằm giúp học sinh tích lũy số lượng từ vựng, hiểu ý nghĩa của từ và phát triển khả năng sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Một số vấn đề về năng lực đọc hiểu 1.
Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm thuộc lĩnh vực tâm lý học, có liên quan đến nhiều nghiên cứu của các tác giả. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa chung và nhất quán về năng lực. Sau đây là một số quan niệm có thể tham khảo: Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD), năng lực được xác định là "khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể". Trong khi đó, Chương trình Giáo dục Trung học (GDTH) bang Quebec, Canada vào năm 2004 cho rằng năng lực là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị và động lực cá nhân để hiệu quả đáp ứng một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Weinert định nghĩa năng lực là sự kết hợp của các khả năng và kỹ năng đã học hoặc đã có sẵn, kết hợp với sự chuẩn bị của học sinh để giải quyết vấn đề và thực hiện các hành động một cách trách nhiệm, được đánh giá để đạt được giải pháp tối ưu [26, tr.