CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Phương trình, bất phương trình trong chương trình giáo dục môn Toán học ở Trung học cơ sở. Khoa học về phương trình, bất phương trình 1. Lịch sử hình thành và phát triển Lý thuyết phương trình đã có lịch sử từ rất lâu đời. Các phương trình bậc nhất, bậc hai đã được người Ai Cập cổ đại và người Babylon giải được từ những năm 2000 trước Công nguyên, thậm chí người Babylon còn tìm được những bảng đặc biệt để giải phương trình bậc ba.
Từ thế kỷ VII, các nhà toán học Ấn Độ đã phát triển được lý thuyết về phương trình bậc nhất và phương trình bậc hai, họ cho ra đời phương pháp giải phương trình bậc hai bằng cách bổ sung thành bình phương của một nhị thức. Sau đó, số âm, số Ả Rập cũng được sử dụng rộng rãi trong xã hội Ấn Độ các với cách viết theo vị trí của các chữ số. Theo thời gian, các phương trình bậc ba và bậc bốn cũng đã được các nhà toán học La Mã tìm ra cách giải. Trong toán học, bất phương trình được định nghĩa thông qua khái niệm hàm mệnh đề (mệnh đề chứa biến).
Bất phương trình là một mệnh đề chứa biến biểu diễn một quan hệ thứ tự giữa các biểu thức chứa biến. Trong tiếng Anh bất phương trình và bất đẳng thức cùng là Inequality không phân biệt như cách hiểu của SGK Toán Việt Nam.Theo các SGK Toán Việt Nam, các bất đẳng thức có chứa ẩn gọi là các bất phương trình. Khi nghiên cứu các bất phương trình người ta tìm cách giải chúng, còn khi nói đến bất đẳng thức người ta muốn chứng minh chúng. Hai bài toán hơi khác nhau một chút.
Chứng minh bất đẳng thức đúng với những điều kiện (đủ) nào đó của các biến có mặt trong bất đẳng thức, còn giải bất phương trình là tìm tất cả các nghiệm để bất đẳng thức đúng (cần và đủ). Tuy nhiên diều đó chỉ 8 thường rõ ràng với các bất phương trình một ẩn. Với các bất phương trình hai ẩn, ba ẩn có thể biểu diễn tập nghiệm nhờ hình học. Người ta chia bất phương trình thành các loại: - Bất phương trình một ẩn; Các bất phương trình một ẩn đều có thể chuyển về dạng f(x)>0 hoặc f(x)≥0.
Khi đó phân loại của bất phương trình được quy về phân loại của hàm f(x). - Bất phương trình nhiều ẩn Khái niệm bất phương trình có thể mở rộng thành bất phương trình n biến trên trục số thực hoặc trên tập bất kỳ của biến x nhưng các hàm f(x) và g(x) phải nhận giá trị trên các tập sắp thứ tự toàn phần. -Hệ bất phương trình. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ứng dụng Trong toán học, phương trình là một phát biểu khẳng định sự bằng nhau của hai biểu thức và được nối với nhau bằng dấu bằng "=".
Các biểu thức ở hai vế của dấu bằng được gọi là "vế trái" và "vế phải" của phương trình. Giải một phương trình chứa các biến tức là xác định giá trị nào của các biến làm cho đẳng thức đúng. Các biến còn được gọi là ẩn số và giá trị của ẩn số thỏa mãn đẳng thức được gọi là nghiệm của phương trình. Loại phương trình phổ biến nhất là phương trình đại số, trong đó hai vế là biểu thức đại số.
Mỗi vế của một phương trình đại số sẽ chứa một hoặc nhiều số hạng. Một phương trình tương tự như một cái cân mà trọng lượng được đặt vào hai bên. Khi hai đĩa được đặt vào các trọng lượng bằng nhau của một thứ gì đó (ví dụ: hạt) hai trọng lượng làm cho cân cân bằng và được cho là bằng nhau. Nếu một lượng hạt được lấy ra từ một đĩa của cân thì một lượng hạt tương đương phải được lấy ra khỏi đĩa kia để giữ cân bằng.
Như vậy, một phương trình vẫn ở trạng thái cân bằng nếu cùng một phép toán được thực hiện trên cả hai vế của nó. 9 Trong hình học, phương trình được sử dụng để mô tả các hình. Vì các phương trình được xem xét, chẳng hạn như các phương trình có vô số nghiệm mục tiêu bây giờ là khác: thay vì đưa ra các nghiệm một cách rõ ràng hoặc đếm chúng, một điều không thể, người ta sử dụng phương trình để nghiên cứu các tính chất của các hình. Đây là ý tưởng khởi đầu của hình học đại số, một lĩnh vực quan trọng của toán học.
Đại số nghiên cứu hai loại phương trình chính: phương trình đa thức và trong đó có trường hợp đặc biệt của phương trình tuyến tính. Khi chỉ có một biến, phương trình đa thức có dạng P(x) = 0, trong đó P là một đa thức và phương trình tuyến tính có dạng ax + b = 0, trong đó a và b là tham số. Để giải các phương trình trên, người ta sử dụng các kỹ thuật hình học hoặc thuật toán bắt nguồn từ phân tích toán học hoặc đại số tuyến tính. Đại số cũng nghiên cứu phương trình Diophantine trong đó hệ số và nghiệm là số nguyên.
Các kỹ thuật được sử dụng là khác nhau và đến từ lý thuyết số. Các phương trình này nói chung là khó; người ta thường tìm kiếm chỉ để tìm sự tồn tại hoặc không có của một giải pháp và nếu chúng tồn tại để đếm số lượng giải pháp. Dạy học phương trình, bất phương trình ở Trung học cơ sở. Mục tiêu a) Kiến thức Học sinh nắm được khái niệm phương trình, bất phương trình, thế nào là nghiệm của phương trình, bất phương trình, các phương pháp giải phương trình, bất phương trình; điều kiện xác định của phương trình, bất phương trình; phương trình, bất phương trình tương đương và hệ quả.
b) Kỹ năng Học sinh biết cách giải và biện luận phương trình, bất phương trình; thành thạo các phương pháp giải phương trình, bất phương trình theo thuật giải, theo công thức hoặc theo các quy tắc biến đổi xác định như: phương trình bậc nhất một ẩn, bất phương trình bậc nhất một ẩn, phương trình bậc hai một ẩn, hệ phương trình bậc nhất hai ẩn… 10 c) Thái độ Học sinh được phát triển tư duy thông qua việc giải phương trình và bất phương trình theo thuật giải hoặc theo một hệ quy tắc xác định, được rèn luyện tính quy củ, tính kế hoạch, tính kỷ luật trong việc giải phương trình và bất phương trình theo thuật giải, tính linh hoạt và khả năng sáng tạo, đặc biệt là trong việc giải những phương trình và bất phương trình theo nội dung, những phương trình và bất phương trình không mẫu mực. Khái quát nội dung chương trình Phương trình và bất phương trìnhlà một trong bốn nội dung cơ bản và xuyên suốt trong chương trình Toán phổ thông. Ở cấp Tiểu học, học sinh được làm quen với những dạng bài như: điền vào chỗ trống, tìm x ở những dạng đơn giản VD 1.1: Điền vào chỗ trống 2+ =5 10 - =8 VD 1.3: Tìm x sao cho 7 x 9 Như vậy, học sinh đã được tiếp xúc với phương trình và bất phương trình ngay ở bậc tiểu học ở dạng không tường minh. Khi lên cấp THCS, học sinh dần dần được tiếp xúc với phương trình và bất phương trình một cách rõ ràng hơn.
Lớp 7 học sinh được học về biểu thức đại số, đơn thức, đơn thức đồng dạng, đa thức và đa thức một biến, cộng, trừ đa thức và đa thức một biến; nghiệm của đa thức một biến. Ở chương này, học sinh sẽ nắm được khái niệm nghiệm của đa thức một biến và cách tìm nghiệm. Đây chính là những kiến thức ẩn tàng về phương trình. Lớp 8 học sinh bắt đầu được tiếp xúc với phương trình và bất phương trình tường minh hơn.
Chương III: Phương trình bậc nhất một ẩn 11 Trong chương này, học sinh được học về khái niệm phương trình bậc nhất và phương trình bậc nhất một ẩn; cách vận dụng quy tắc chuyển vế và quy tắc nhân với một số để giải phương trình; HS biết cách đưa phương trình về dạng ax+b=0 để tìm nghiệm; các phương trình tương ứng phương trình tích, phương trình chứa ẩn ở mẫu và giải bài toán bằng cách lập phương trình. Chương IV: Bất phương trình bậc nhất một ẩn Tương tự như chương III, ở chương này HS cũng được tiếp cận khái niệm về BPT một ẩn và BPT bậc nhất một ẩn; vận dụng hai quy tắc biến đổi bất phương trình để tìm tập nghiệm, cách biểu diễn tập nghiệm trên trục số. Lớp 9: Chương trình học yêu cầu HS nắm được về khái niệm và cách giải phương trình bậc nhất hai ẩn, hệ phương trình bậc nhất hai ẩn; phương trình quy về phương trình bậc hai như: phương trình trùng phương, phương trình tích, phương trình chứa ẩn ở mẫu thức; giải toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình. Cấp THPT: Mở rộng ra các dạng phương trình mới: phương trình lượng giác, phương trình, bất phương trình mũ, logarit, phương trình nghiệm phức 1.
Thực trạng vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả, cái chung – cái riêng trong dạy học phương trình, bất phương trình ở Trung học cơ sở. a) Đối tượng khảo sát Chúng tôi gửi phiếu điều tra đến 200 GV toán ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Mục đích là tìm hiểu thực trạng dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình ở môn toán THCS trên các mặt: Nhận thức, thái độ, năng lực giải phương trình và bất phương trình; sự vận dụng các cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả, cái chung - cái riêng trong dạy học phương trình và bất phương trình nhằm phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học và năng lực giải quyết vấn đề toán học theo mẫu phiếu khảo sát (phụ lục 1) 12 b) Kết quả khảo sát Đáp án A B C Câu Câu 1 8% 20% 72% Câu 2 70.5% Câu 3 5% 85% 10% Qua bảng kết quả trên, ta nhận thấy: Có đến 144 giáo viên chiếm tỷ lệ 72% số GV được hỏi cho rằng: Khi dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình ở môn toán THCS, GV không cần hiểu biết khái niệm hàm mệnh đề, trong khi phương trình và bất phương trình được định nghĩa thông qua khái niệm hàm mệnh đề (mệnh đề chứa biến). 70,5% số GV được hỏi cho rằng lời giải của phương trình trên là đúng, trong đó thực ra là sai, điều đó chứng tỏ năng lực giải PT của các Thầy (Cô) cần phải được nâng cao thêm.