Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 1. Khái quát về thực hiện hợp đồng 1. Khái niệm thực hiện hợp đồng Thực hiện hợp đồng là phần quan trọng trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên hiện tại, BLDS năm 2015 không có đưa ra khái niệm về “thực hiện hợp đồng” mà chỉ quy định cách thức thực hiện hợp đồng với một số loại hợp đồng cụ thể3.
Theo quy định của BLDS năm 2015, hợp đồng là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự4. Như vậy, sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu5 thì hợp đồng này sẽ có hiệu lực bắt buộc với các bên. Vì vậy, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên sẽ phải lần lượt tiến hành các hành vi mang tính nghĩa vụ đúng theo tính chất, đối tượng, thời hạn, phương thức và địa điểm đã được xác định theo nội dung đã thống nhất trong hợp đồng. Bên cạnh đó, khác với các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự khác (như hành vi pháp lý đơn phương; thực hiện công việc không có ủy quyền; chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật), trong quan hệ hợp đồng, nghĩa vụ phát sinh bắt buộc phải xuất phát từ sự thống nhất thỏa thuận giữa các bên.
Các bên tự nguyện thỏa thuận các điều khoản để ràng buộc lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên nhằm đạt được mục đích chung mà hợp đồng hướng tới. Do đó, hợp đồng không chỉ làm phát sinh nghĩa vụ mà còn làm phát sinh quyền. Có thể thấy rõ điều này trong các loại hợp đồng song vụ, khi quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên còn lại như trong hợp đồng thuê nhà, bên thuê có quyền nhận nhà còn bên cho thuê có 3 Điều 409, 410 BLDS năm 2015. 4 Khoản 1 Điều 275 BLDS năm 2015.
9 nghĩa vụ bàn giao nhà cho bên thuê; hoặc bên cho thuê có quyền được nhận tiền thuê nhà còn bên cho thuê phải có nghĩa vụ thanh toán. Như vậy, có thể hiểu “thực hiện hợp đồng” là việc các bên trong hợp đồng thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhằm hiện thực hóa các nội dung, điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng Pháp luật hiện tại cũng không có quy định riêng về nguyên tắc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, với bản chất là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự, hợp đồng nói chung và việc thực hiện hợp đồng nói riêng cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Theo tác giả, việc thực hiện hợp đồng cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây: Một là, nguyên tắc tuân thủ đúng hợp đồng. Nguyên tắc tuân thủ đúng hợp đồng hay còn gọi là nguyên tắc hiệu lực bất biến của hợp đồng; trong tiếng La-tinh là “pacta sunt servanda” với “pacta” có nghĩa là những điều giao ước, “sunt” nghĩa là thì, “servanda” nghĩa là cần phải được giữ. Nguyên tắc này có thể diễn đạt ngắn gọn là: Đã hứa thì phải tuân thủ6. Đây được xem là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất trong quan hệ hợp đồng.
Theo đó, khi hợp đồng đã được giao kết thì nó trở thành luật giữa các bên và các bên bị ràng buộc phải thực hiện theo đúng các nội dung đã thỏa thuận. Một bên trong hợp đồng không được phép tự ý đơn phương thay đổi nội dung hợp đồng. Các điều khoản trong hợp đồng chỉ có thể được thay đổi bởi ý nguyện chung của tất cả các bên. Đồng thời, hiệu lực của hợp đồng cũng mang tính ổn định và không thể bị hủy bỏ một cách tùy tiện.
Nếu các nội dung mà các bên đã thỏa thuận chưa được đầy đủ hay có thiếu sót và cần phải giải thích hợp đồng thì hợp đồng phải được giải thích theo hướng ràng buộc các bên7. 6 Trần Kiên, Nguyễn Khắc Thu (2019), Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2+3/2019, trang 45-55. 7 Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. 10 Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc khi hợp đồng đã được xác lập hợp pháp thì sẽ được pháp luật bảo vệ và buộc các chủ thể khác phải tôn trọng giá trị pháp lý của hợp đồng đó.
Nếu một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên vi phạm không chỉ có thể phải chịu các chế tài từ bên bị vi phạm đưa ra, mà còn có thể phải chịu chế tài từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Hai là, nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách thiện chí, trung thực. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhất là các hợp đồng dài hạn hoặc các hợp đồng trong những lĩnh vực có rủi ro cao, luôn có nhiều lý do chủ quan hoặc khách quan có thể dẫn đến khó khăn, cản trở các bên đạt được các mục đích mà hợp đồng hướng tới. Trong trường hợp gặp những khó khăn như vậy, các bên trong hợp đồng cần phải có thái độ thiện chí, cùng nhau tìm cách tháo gỡ, giải quyết khó khăn trên tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho tất cả các bên, cũng như hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra cho nhau.
Bên có quyền không được lợi dụng hoàn cảnh gây bất lợi cho bên kia nhằm trục lợi cho mình. Đồng thời, bên có nghĩa vụ cũng không được vịn vào lý do gặp hoàn cảnh khó khăn khách quan để trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết. Bên cạnh đó, sự trung thực cũng hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Việc các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách trung thực sẽ tạo được sự tin cậy lẫn nhau.
Một hợp đồng không thể nào được thực hiện một cách hiệu quả nếu các bên luôn có sự nghi ngờ, dè chừng lẫn nhau. Vì vậy, đây là một trong những yếu tố quyết định sự thành công và hiệu quả của hợp đồng. Theo quan điểm của tác giả, một mặt nào đó, việc các bên thực hiện hợp đồng một cách thiện chí, trung thực cũng là một cách để đảm bảo nguyên tắc tuân thủ đúng hợp đồng. Hợp đồng có hiệu lực tương đối vì hiệu lực của hợp đồng chỉ ràng buộc đối với các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Chỉ cần một bên có hành vi lừa dối, không trung thực hoặc có thái độ thiếu thiện chí thì sẽ rất khó để quan hệ hợp đồng có thể được duy trì và hiện thực hóa. Vì vậy, nếu muốn đảm bảo được đầy 11 đủ lợi ích của các bên thì bắt buộc mỗi bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng trên trên tinh thần thiện chí, trung thực. Ba là, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các bên trong hợp đồng. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”8.
Trong các quyền con người thì quyền được đối xử bình đẳng, không phân biệt đối xử là một quyền quan trọng được Nhà nước bảo vệ. Nhằm hiện thực hóa quan điểm này, BLDS năm 2015 cũng có quy định: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”9. Như vậy, có thể thấy đây là một nguyên tắc quan trọng của pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng. Theo đó, các bên phải tôn trọng lẫn nhau, không được phân biệt giới tính, tôn giáo, tuổi tác, địa vị xã hội,… trong việc lựa chọn, quyết định tham gia hợp đồng, thỏa thuận giao kết hợp đồng và cả trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Bốn là, nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác. Nếu khi giao kết hợp đồng, để hợp đồng có hiệu lực thì các bên phải đảm bảo mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội10, thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải đảm bảo không được xâm hại đến lợi ích của bên thứ ba, đó là lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng và của các tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng mà mục đích, nội dung của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng lại có thể làm ảnh hưởng hoặc xâm hại đến lợi ích của 8 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. 9 Khoản 1 Điều 3 BLDS năm 2015.
10 Điều c Khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015. 12 Nhà nước, cộng đồng hay của tổ chức, cá nhân khác thì các bên trong hợp đồng cũng không được phép thực hiện. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên không được chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình mà còn phải quan tâm đến lợi ích của bên thứ ba. Năm là, nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng.
Như đã phân tích ở trên, khi hợp đồng đã có hiệu lực thì các bên tham gia hợp đồng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng, đủ mọi thỏa thuận đã giao kết và tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn, rất nhiều trường hợp các bên vì lợi ích của mình mà cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, vi phạm quy định pháp luật. Do đó, pháp luật đã quy định nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ để ràng buộc trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng11. Theo đó, nếu bên nào vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên kia hoặc cho bên thứ ba thì phải tự chịu trách nhiệm bởi hành vi của mình.