Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Khái niệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Kinh tế thị trường ra đời gắn liền với sự phát triển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, là nơi người mua và người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để thực hiện các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại hàng hóa, dịch vụ,… tạo nên mối quan hệ hợp tác, gắn bó mật thiết giữa các chủ thể tham gia. Các doanh nghiệp là nhà cung cấp luôn quan tâm đến các đối tượng khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua, nhu cầu sử dụng nhưng chưa được thỏa mãn và khả năng thanh toán của họ để tạo nên vị trí cho các sản phẩm của mình trên thị trường.
Trong mối quan hệ giữa NTD, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội, NTD được xem là chủ thể giữ vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng để cấu tạo và thực hiện các hoạt động cơ bản của thị trường, tuy nhiên họ lại là người có mức độ hiểu biết không chuyên sâu về thị trường và hàng hóa, dịch vụ mình đang sử dụng bằng các chủ thể cung cấp, đồng thời không lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận các thông tin về sản phẩm và biết được các thông tin của mình được nhà cung cấp thu thập được sử dụng để làm gì, bởi vậy đây luôn là các đối tượng yếu thế cần được pháp luật chú trọng bảo vệ. Hiện nay, vấn đề về bảo vệ NTD đang là mối quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Dưới góc độ lý luận pháp luật, các nhà nghiên cứu, nhà làm luật đã có nhiều cách tiếp cận, ý kiến khác nhau về khái niệm NTD, có thể kể đến như: Theo quy định tại Điều 3 Phần 1 Chương II Bộ luật Người Tiêu dùng (Consumer Code) năm 2014 của nước Pháp thì định nghĩa về NTD được hiểu là “người thực hiện các giao dịch không vì mục đích thương mại, công nghiệp, thủ công, các hoạt động nông nghiệp hoặc tự sản xuất”. 6 Trong hệ thống pháp luật ở Thái Lan, căn cứ Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1979 của nước này, “Người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”.
Tại Nga, trong phần khái niệm cơ bản của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999, sửa đổi gần nhất vào năm 2007 thì người tiêu dùng được định nghĩa là “cá nhân người có mong muốn đặt hoặc yêu cầu hàng hóa (công việc, dịch vụ) hoặc người đặt, yêu cầu hàng hóa cho mục đích tiêu dùng của cá nhân, gia đình, hộ gia đình và các nhu cầu khác không vì mục đích kinh doanh”. Có thể thấy, cho dù nhìn nhận ở khía cạnh nào đi nữa, các khái niệm trên đều thống nhất xác định NTD vẫn là các đối tượng có thể là cá nhân hoặc tổ chức không chỉ thực hiện hành vi mua mà phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ để phục vụ sinh hoạt. Nói cách khác, pháp luật các nước khi giải thích khái niệm về NTD luôn loại trừ các mục đích kinh doanh, sinh lời trong hoạt động thương mại đối với giao dịch trên thị trường, qua đó nhà làm luật gián tiếp thừa nhận đây là các hoạt động mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự. Ở Việt Nam, pháp luật về bảo vệ NTD được hình thành từ năm 1999 thông qua Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/04/1999 về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sau đó được điều chỉnh, thay thế bằng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, đánh dấu sự ra đời của khung pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia sử dụng hàng hóa, dịch vụ, tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người.
Trên cơ sở đó, Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD quy định NTD là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Pháp luật hiện hành thừa nhận NTD ở Việt Nam có thể là các cá nhân, tổ chức và có mối liên 7 hệ với nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường thông qua việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng, sự mở rộng đối tượng được xem là NTD ở nước ta đã góp phần giúp nhiều chủ thể yếu thế trên thị trường được pháp luật bảo vệ một cách kịp thời. Thêm vào đó, dưới góc độ ngôn ngữ học, tiêu dùng là hoạt động sử dụng của cải vật chất để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống sinh hoạt hằng ngày. Từ những phân tích trên, như vậy, ở Việt Nam, khái niệm NTD có thể khái quát: là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức tham gia các giao dịch dân sự bằng việc thực hiện hoạt động mua, sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích thương mại mà chỉ phục vụ mục đích sử dụng, sinh hoạt cho cá nhân, gia đình, tổ chức.
Khái niệm thông tin cá nhân của người tiêu dùng và bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng “Thông tin cá nhân” (TTCN) không phải là thuật ngữ mới ở Việt Nam mà thuật ngữ này đã được đề cập, sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. TTCN đã được giải thích lần đầu tiên tại Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nhà nước, theo đó, TTCN là: “thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác.” Sau đó, trong phạm vi áp dụng các giao dịch thương mại điện tử, TTCN được định nghĩa tại Khoản 13 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, theo đó, TTCN là các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, gồm tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, 8 số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật. Theo Nghị định này, các thông tin liên hệ công việc và thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông không được xem là TTCN.
Tuy nhiên, trong Luật BVQLNTD lại không đề cập đến khái niệm “thông tin cá nhân của NTD” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “thông tin của người tiêu dùng” để áp dụng chung. Hiện nay, trong các văn bản luật, định nghĩa TTCN được đề cập một cách chính thức tại Khoản 15 Điều 3 Luật ATTTM năm 2015, theo đó, “thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính của một người cụ thể”. Thuật ngữ “danh tính” có thể được hiểu là các dữ liệu về tên, tuổi, lai lịch của một người, các thông tin này có thể đã được công khai hoặc họ không muốn tiết lộ và giữ làm bí mật riêng. Suy rộng ra, các TTCN phải biểu thị các thông tin gắn liền với một người, phản ánh về các quyền dân sự hay chứa đựng các thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như hành chính, hình sự, giáo dục, kinh tế, y tế,… Thông thường, TTCN là thông tin về họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân/căn cước công dân, số hộ chiếu, thông tin về hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác.
Từ những bình luận trên, có thể hiểu TTCN của NTD là: tất cả các thông tin đã được công khai hoặc bí mật mà qua đó có thể xác định được cụ thể danh tính của NTD, phân biệt giữa họ với một người khác. Cũng phải khẳng định rẳng, mặc dù thuật ngữ “người tiêu dùng” trong quy định của Luật BVQLNTD năm 2010 không chỉ bao gồm cá nhân mà có thể bao gồm cả hộ gia đình và tổ chức, tuy nhiên, như định nghĩa về “thông tin cá nhân” đã hàm ý kể trên, trong cụm từ “thông tin cá nhân của NTD” thì cụm từ “người tiêu dùng” chỉ có thể được hiểu là “cá nhân người tiêu dùng” 9 chứ không bao gồm “tổ chức”. Do vậy, trong nghiên cứu này, thuật ngữ “người tiêu dùng” trong tên đề tài nghiên cứu chỉ được hiểu và giới hạn là cá nhân người tiêu dùng. Khi tham gia giao dịch trên thị trường, trừ các giao dịch trực tiếp sử dụng tiền mặt mà các bên tham gia giao dịch không cần hỏi người mua hàng hóa, dịch vụ là ai, đa phần NTD buộc phải cung cấp một số thông tin cá nhân của mình (như các thông tin về họ tên, địa chỉ liên lạc v.) cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thực hiện giao dịch (nhất là trong các giao dịch mà giữa các bên hình thành một hợp đồng dưới hình thức văn bản, trong đó có các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ qua mạng Internet).
Những thông tin về khách hàng thường được các cá nhân, tổ chức kinh doanh thu thập, lưu trữ, quản lý cẩn thận và cần được giữ kín, bảo mật một cách chặt chẽ bởi lẽ nó không chỉ đáp ứng cho một giao dịch được xác lập trước mắt mà tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với khách hàng cũ của mình thông qua việc khai thác dữ liệu khách hàng đang có sẵn, đảm bảo giữ vững thị phần. Thông qua lưu trữ thông tin khách hàng, thay vì phải nghiên cứu tìm kiếm cách quảng bá, tiếp thị sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp chỉ cần sử dụng dữ liệu có sẵn tiến hành liên lạc với khách hàng cũ, duy trì mối quan hệ bạn hàng ổn định.