CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG PHAP LUAT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 111. Một số vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội. LLL Kháin lệm, ý nghia của trợ giúp xã hội 1.111 Khái niêm tro giúp xã ôi Trên thé giới hiên nay, TGXH được coi là chính sách xã hồi quan trong và là một bộ phân cầu thành ASXH, ILO tuy chưa cỏ công ước riêng vé vẫn.
để TGXH, song trong các quy phạm tdi thiểu của hệ thông ASXH, đã đưa ra những đặc trưng cơ bản của TGXH để nhận điện va so sánh với các bộ phân. Theo đó, "Đắt tương TGXH là mọi người dân không có sự phân biệt theo tiêu chí nào khi gặp những rủi ro, bién cổ cần sự ghip đố. Không đặt ra ghia vu đồng góp tài chính cho việc tìm lưỡng các khoản tro cáp xã hội, nhà nước có trách nhiễm đâm bảo từ tài chính công để trả cho đối tượng, Các khoản trợ cấp xã hội nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng và được xác định trên cơ sở mức độ rit ro và nằm cầu tro ghip, không plu thuộc vào tiền lương tìm nhập”` Ở Hoa Kỳ, sư ra đời của đạo luật ASXH năm 1953 gắn liên với như cầu TGXH trong bôi cảnh đói nghèo của nhóm người yêu thé như phụ nữ, tré em, người giả” và sau nảy được mở rộng đến mọi đổi tượng có thu. nhập quá thấp dưới tiêu chuẩn nghèo khó hay những người lâm vào tinh cảnh.
đặc biệt như NKT® Ở Đức, TGXH nhằm dam bảo thu nhập tối thiểu cho người dân — những người không đủ điển kiện được hưởng các quyển lợi BHXH và không thể đáp ứng được nhu cẩu sống tối thiểu của bản thân. TGXH được thực hiện trên nguyên tắc tương trợ vả thể hiện rõ chức năng là một “lưới an tort” cho tất cả người dân khí di điều kiện. Hiện nay các quốc "ILO, Socal Sear Bogtezdeemdturti maặt 1609 “1B ah Deh Cink cong Poa it doen 195-2001 Ne Tg, Eã Nội 0. HoagBột Le Ths Tey Hạng Php nt mai ví hi Mmihghận amt ve đt Mt em Nà, chôn: gi ge —Svdk aN, I1.TT) 0 gia trên thé giới đều xác định rằng việc quy đính va thực hiện TGXH lá một trong những điều kiên bảo đảm cho su phát triển vững bén của quốc gia, công bằng xd hội và la nội dung trọng tâm của pháp luật ASXH.
Ở Việt Nam với truyền thống lâu đời “la iảnh dim iá rách" của dan tộc. ra, déng thời nhằm bảo dam sự công bằng, bình đẳng giữa các thành viên. trong xã hội, én định chính trị, ngay tử năm 1945 đến nay, Đảng và Nhà nước. luôn đặc biệt chủ trong đền chính sách TGXH.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian dai đất nước còn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại nên các hoạt đông TGXH chưa được cụ thể trong các văn bản pháp luật. Mãi đến năm 2000, với sự ra đời của Nghỉ định số 07/2000/NĐ-CP vẻ chính sách cứu trợ xã hội, TGXH mới được quy định cụ thể, Qua nhiễu lân sửa đổi, bỏ sung, quy. định về TGXH được quy định trong nhiều văn kiện phép lý. Đó là: Hiển pháp năm 2013, Luật Người cao tuổi năm 2009, Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật BHXH năm 2014, Luật BHYT năm 2008, sửa đổi, ba sung năm 2014; Luật Trẻ em năm 2016,.
Trong đó, trực tiếp là Nghỉ định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/03/2021 của Chính phũ quy định chính sách TGXH đổi với đổi tương bảo trợ sẽ hội Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, TGXH là “sự giúp đố tiêm bằng tiền hoặc các điều Kiện sinh sống thích hop dé đối tương được giúp đố. cô thé phát ayy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc cho gia đình, a7 sớm hòa nhập với công ding’? Đối tượng được hưỡng TGXH là những người vì nhiều lý do khác nhau mà đang bị khó khăn vé vat chất hoc tinh thân de doa đến cuốc sing hàng ngày của họ. Ho được công đồng chung tay ‘bao vệ va hỗ trợ dé co một cuộc sống trọn ven hơn. Tir phân tích trên có thể hiểu TGXH là sự giúp đỡ của nha nước, xã hội và công đồng đối với cả nhân, hô gia đính lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bắt hạnh, ng Quốc ga dĩ dạ bên some đến bích hoi Vit Nm, 7E đệ Dick ng MeN Nab Từ ổn.
How HN nu nghèo đôi nhằm giúp ho vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng, 11. Ÿnghữa của trợ giúp xã hội Ý ngiữa kinh té: So với các ché độ trong lĩnh vực an sinh xã hội, các mức ‘TGXH hiện nay, nhìn chung còn thấp, song luôn được coi là "lưới đổ” về mặt kinh tế, nhằm bão dam và duy tri mức sống tôi thiểu của ca nhân hoặc hộ gia inh khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Nêu không có chế đô tro giúp nay, nhiễu cá nhân có thé bị chết đói, chết rét, nhiều hộ gia đính rơi vào cảnh “man trời, chiếu đất”, thiểu ăn, thiểu mặc. Vì thể, thông qua hình thức giúp đổ bằng tiển hoặc các điều kiện vật chất thiết yéu khác, nha nước và công đồng xã hội đã giúp cho đổi tương khắc phục được ngay và luôn những rũi r xây ra Củng với việc mở rộng đối tương, nha nước liên tục điều chỉnh các mức trợ cấp sã hội theo hướng ngày cảng tăng, nhằm đáp ứng ngày cảng tốt hơn nhu cầu của đối tượng hưởng, Ý nghĩa xã hội và nhân văn: TGXH mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thin đoàn kết, giúp đỡ nhau trong xã hội.
Ngodi nguôn chỉ từ tải chính công, nguồn TGXH còn được thực hiện từ sự đóng góp, chung tay cũa cả công đồng Đối tương được trợ giúp zã hội không phải thực hiện bat kỹ nghĩa vụ tải chính nào để đảm bảo cho việc thu hưởng. Chỉnh sự giúp đổ của Nha nước và cả công đồng đã giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn thấy ‘minh luôn được quan tâm, chia sẽ, không bi bé lai phía sau, từ đó khích lê đổi tượng vượt qua khó khăn, én định đời sống va vươn lên hòa nhập công đông, phat huy những kha năng có thé để đóng góp cho xã hội. Bởi ý nghĩa nảy ma ‘TGXH là lĩnh vực có thể vượt qua cả những rào căn chính tri, dia li, tôn giáo, tín ngưỡng, .và không còn là vẫn dé riêng của mỗi quốc gia. Tro giúp xã hội đã và đang thu hút được sự quan tâm của toàn nhân loại.
Ý ngiữa pháp if: Bằng việc quy định cụ thể trong Hiển pháp vả nhiều văn ‘ban, pháp luật trợ giúp xã hồi đã tao cơ sỡ pháp li để những cá nhân, hộ gia 1 định không may rơi vào hoan cảnh khó khăn thực hiện quyền được giúp đỡ về. mat vật chất vả tinh thân, khắc phục được cơ chế “xin cho”, "ban ơn”. Cac chế độ trợ giúp nhin chung được bao đâm én đính va thực hiện trong thời gian lâu dai. Mặt khác, khi nhà nước đã quy định cụ thể vẻ chính sách tro giúp xã hội, thì đây còn là cơ sở pháp li để các cơ quan, tổ chức có thẩm quyển thực hiện trách nhiêm trong việc lap hé sơ, thủ tục, chỉ trả các quyền lợi cho đối tượng hưởng, 1.
Khái niệm, nguyên tắc và nội dungpháp luật về trợ giúp xã hội 1.1 Khải niệm pháp luật vỗ trợ ghip xã hội Ra đời trên cơ sở của sư tương trợ công đổng truyén thống, pháp luật TGXH đã phát triển thành một bộ phận quan trọng, không thé thiéu trong hệ thống pháp luật ASXH mỗi quốc gia. La một nội dung mang năng tinh xã hội, do vậy, khái niềm TGXH phụ thuộc rất nhiễu vào quan niệm của từng quốc gia. Ở góc độ khái quát nhất, ILO đưa ra những đặc trưng cơ bản của TGXH để nhận diện khi so sánh với các nội dung khác trong hệ thống ASXH: - Đôi tương TGXH bao gồm moi người dân không có sự phân biệt khi gấp phải những rủi ro, bat hạnh, khó khăn. trong cuộc sông, - Nghĩa vụ đóng góp không đất ra như một yêu câu đổi với người được trợ giúp, Tai chính đầm bão thực hiện chủ yéu lấy từ nguồn ti chỉnh công và từ sx giúp 48, đóng góp tự nguyên của công đồng, - Mức trợ cấp được sác định dựa trên nhu cầu thực sự và thiết yêu của người hưởng, có tính đến tinh trang kinh tế (thu nhập va tài sẵn) của họ, - Mục đích của trợ cấp nhằm giúp duy tri cuộc sống của người thu hưởng và gia đỉnh ho chứ không nhằm khôi phục lai mức sống của ho như trước khi gặp ni ro, bat hạnh Trên phương điện pháp luật quốc tế, không có một quy chuẩn nao bắt ‘bude áp dụng thực hiện TGXH cho các quốc gia mà chỉ đừng lai ở việc zác Fey định quyển hưởng TGXH như la quyền cơ bản của con người trong xã hội nhằm đâm bảo sự tôn tại với những điều kiên sinh sống tdi thiểu như ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, dam bão như câu thiết yêu khi gặp rủi ro.
Việc dim bảo thực. hiện quyển con người này ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng quốc gia. Về cơ bản, pháp luật về TGXH chi yêu điều chỉnh các quan hệ TGXH do Nha nước tổ chức thực hiện từ thu nhập chung quốc gia với những nội dung chính như phạm vi đối tương trợ giúp, các chế đô trợ giúp và "nguồn tai chính đảm bão thực hiện. Tir những phân tích trên có thể hiểu, pháp luật TGXH là tổng hợp các quy định cia nha nước vẻ chế độ chính sách đối với đổi tương bảo trợ zã hôi, bao gồm đối tượng hưỡng, quyển lợi hưởng, kinh phí trợ giúp, quản lý nhá nước vé TGXH và những vẫn dé khác vẻ TGXH đổi với cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhằm giúp đổ họ vượt qua khó khăn, vươn lên hỏa nhập công đồng, 1.
Nguyên tắc điều chinh pháp luật trợ ghúp xã hôi - Nguyên tắc công bằng, công khai, kịp thời theo mức độ khó khăn của tư Đây 1a nguyên tắc cơ bản của TGXH, nhằm không chỉ bao đăm công bằng, xã hội giữa những thảnh viên trong 2 hội mà côn bao đảm công bằng giữa các đối tượng hưởng trợ giúp. Khi đáp ứng đũ các điều kiện theo quy đính của pháp luết, quyển lợi của moi cá nhân, hô gia đính không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo,.đêu được bảo đầm đây đủ, kip thời. Mức trợ cấp, hỗ trợ sé tủy thuộc vào mức độ khó khăn của từng đổi tượng, và không đặt ra bat cứ các điền kiện ‘nao liên quan đến đặc điểm nhân thân, mức sông hay nghĩa vụ tai chính trước.