CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE CAN CU LY HON 1.Một số khái niệm 1.Khát niệm ly hôn Hôn nhân là một trạng thái pháp lý, được xác lập bởi hành vi pháp lý của các cá nhân, cụ thé là các bên kết hôn. Quan hệ hôn nhân tôn tại lâu dài va bên vững, song nó không mang tính chất vĩnh cửu mà chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, hôn nhân có thé bị cham dứt và ly hôn là biện pháp cuối cùng mà pháp luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng tan vỡ mà không thể được khắc phục bằng bat kỳ biện pháp nào khác. Ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp [27.254], chịu sự chi phối và bị quy định bởi các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Do đó, có sự khác nhau trong hệ thống pháp luật các nước khi quy định về ly hôn. Do đó, cũng có nhiều quan điểm liên quan đến khái niệm về ly hôn. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện thì ly hôn được hiểu là “việc cham dứt quan hệ hôn nhân (về mặt pháp lý) trong lúc cả vợ và chong déu còn sống” [30, tr. Theo đó, tại thời điểm ly hôn thi cả hai vợ chồng đều buộc phải còn sống và một hoặc cả hai bên vợ, chồng không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân.
Điều này hoàn toàn khác với trường hợp chấm dứt hôn nhân do vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bồ là đã chết. Ngoài ra, theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, ly hôn được định nghĩa là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng do Toà án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai VỢ chồng [37. Có thể thấy, khái niệm này phù hợp với mô hình ly hôn dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Theo đó, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, được phê chuân bởi Toà án dựa trên các căn cứ luật định.
So sánh với Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, chúng ta thấy có sự tương đồng với quy định “?y hôn là việc cham dứt quan hệ vợ chong theo bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án” [17, Điều 13, khoản 3]. Diễn giải quy định này, ly hôn được hiểu là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do một bên yêu cầu hoặc cả hai bên thuận tình, được toà án công nhận băng bản án xử cho ly hôn hoặc bằng quyết định thuận tình ly hôn. Ly hôn là quyền dân sự của mỗi cá nhân và vợ, chồng có quyền đưa ra yêu cầu ly hôn nhưng việc ly hôn phải được Toà án chấp nhận. Mặt khác, trong cuốn “Những nguyên tắc Luật gia đình Châu Âu về ly hôn và cấp dưỡng giữa vợ chong sau ly hôn ” do Kartharina Boele-Woelki chủ biên, khái niệm ly hôn được hiểu là việc cham dứt quan hệ hôn nhân đã có hiệu lực trong khi hai vợ chồng còn sống theo quyết định của cơ quan có thâm quyền dựa trên những căn cứ và thủ tục do luật định” [40, tr.
Đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và phù hợp với quan điểm xu hướng hiện nay trên thé giới về ly hôn. Có thé thay, ly hôn dẫn đến việc cham dứt quan hệ hôn nhân trên cơ sở ý chí của vợ chồng với điều kiện cả hai vợ chồng đều còn sống tại thời điểm ly hôn. Điều này có nghĩa, việc ly hôn được thực hiện dựa trên cơ sở yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chong. Ý chi của các bên là ý chí tự nguyện, hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt và không bị bat kỳ một áp lực nào về việc không muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân.
Điều cần nhấn mạnh là, chỉ khi các bên nam, nữ có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì mới mới được phép ly hôn. Hôn nhân hợp pháp được hiểu là việc kết hôn được xác lập theo những điều kiện pháp luật quy định. Ly hôn là việc chấm dứt về mặt pháp lý quan hệ vợ chồng đã được pháp luật công nhận. Nếu vợ chồng xin ly hôn không có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì hệ quả của nó là huỷ hôn nhân, chứ không phải là ly hôn.
Ngoài ra, việc ly hôn luôn được kiểm soát bởi nhà nước vì nó không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của vợ, chồng mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Nhà nước kiểm soát ly hôn thông qua các quy định về căn cứ ly hôn và trình tự, thủ tục ly hôn. Do đó, ngay cả khi các bên có thoả thuận ly hôn (thuận tình ly hôn) thì thoả thuận đó cũng phải được cơ quan có thâm quyền công nhận thì có mới hiệu lực. Tóm lại, ly hôn là việc chấm dứt về mặt pháp lý cuộc hôn nhân đã được xác lập theo những điều kiện luật định về kết hôn, dưới sự kiểm soát của Nhà nước bang các quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyền, dựa trên yêu cầu của cả hai VỢ chồng hoặc của một bên vợ hoặc chồng khi cả hai vợ chồng còn sông.Khát niệm can cứ ly hôn Trong lich sử pháp triển của pháp luật về ly hôn, mô hình pháp luật ly hôn được sử dụng trong các hệ thống pháp lý có thể chia thành ba loại: cắm ly hôn, tự do ly hôn và ly hôn tự do dưới sự kiểm soát của Nhà nước [30, tr.
Mô hình cấm ly hôn được xây dựng trên nền tảng quan niệm về giá thú bat kha đoạn tiêu (marriage indissoluble) cua dao Gia tô va được thừa nhận tại nhiều nước ở Chau Âu thời kỳ Trung cô [38, tr. Ngược lại, mô hình tự do ly hôn lại theo chiều hướng cho phép vợ chồng ly hôn trên cơ sở ý chí của cả hai vợ chồng hoặc của một bên vợ hoặc chồng. Nói cách khác, tự do ly hôn chủ trương rằng hôn nhân không thé được duy trì một khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai không còn muốn chung sống. Nếu cả vợ và chồng đều đồng ý ly hôn thì càng tốt; nếu không mỗi người có quyền ly hôn chỉ băng quyết định đơn phương của mình [38, tr.
Dung hoà giữa hai mô hình nói trên, mô hình ly hôn tự do đưới sự kiểm soát của Nhà nước hướng tới việc tôn trọng quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhưng yêu cầu ly hôn chỉ được chấp nhận trong những trường hợp luật dự kiến. Thuật ngữ “căn cứ ly hôn” xuất hiện trong hệ thống pháp luật theo mô hình tự do ly hôn và ly hôn dưới sự kiểm soát của nhà nước. Khái niệm “căn cứ ly hôn” được hiểu một cách tương đối thống nhất, đó là những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do pháp luật quy định, chỉ khi có những tình tiết, điều kiện đó thì Toà án mới xử cho ly hôn [27, tr. Nói 9 cách khác, căn cứ ly hôn là những quy định của pháp luật trong đó xác định rõ các điều kiện mà cơ quan có thấm quyền giải quyết việc ly hôn phải căn cứ vào các điều kiện này trong quá trình giải quyết việc ly hôn của vợ chồng.
Các nhà nước khác nhau có quan điểm không giống nhau về các điều kiện, hoàn cảnh ma khi có các điều kiện hoàn cảnh đó vợ chồng mới được phép ly hôn (căn cứ ly hôn) [26, tr. Ở các nước coi hôn nhân là một hợp đồng thi quy định nội dung căn cứ ly hôn thường được xây dựng dựa trên lỗi của các bên. Ngược lại, một số nước thì quy định về căn cứ ly hôn dựa trên cơ sở hôn nhân tan rã. Tuy nhiên, cũng có những quốc gia kết hợp cả yếu tô lỗi và hôn nhân tan rã khi quy định về căn cứ ly hôn.
Hiện nay, có những quốc gia xây dựng một quy định chung về căn cứ ly hôn áp dụng cho các trường hợp ly hôn (thuận tình ly hôn, đơn phương ly hôn). Trái lại, một số nước lại xây dựng các căn cứ ly hôn riêng biệt cho các trường hợp ly hôn cụ thê. Có thé thay, Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới được phép chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nói cách khác, ý chí của vợ chồng không phải là điều kiện quyết định dé cham dứt hôn nhân mà việc giải quyết ly hôn phải căn cứ vào những điều kiện được luật định.
Chỉ khi xảy ra các điều kiện đó thì yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng mới được chấp nhận và đó được gọi là căn cứ ly hôn. Căn cứ ly hôn phản ảnh ý chí của nhà nước trong việc kiểm soát việc ly hôn. Tuy nhiên, việc kiểm soát này xuất phát từ mục đích nhăm bảo vệ lợi ích cho chính vợ chồng, thành viên của gia đình và lợi ích của xã hội. Căn cứ ly hôn chính là những yếu tố, điều kiện để cơ quan có thâm quyền xử lý việc ly hôn xác định tính hợp ly và chính đáng của yêu cau ly hôn.
Từ đó, đưa ra quyết định có cho phép hay không cho phép vợ chồng ly hôn. Nhà nước kiêm soát ly hôn được thé hiện qua yếu tố việc ly hôn của vợ chồng chỉ được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thâm quyên. Ngoài ra việc ly hôn chỉ được cho phép khi xảy ra những điều kiện luật định (căn cứ ly hôn). Căn cứ ly hôn 10 chính là biện pháp tốt nhất để nhà nước kiểm soát việc ly hôn mà vẫn đảm bảo tôn trọng quyền tự do ly hôn của vợ chồng.
Nếu yêu cầu ly hôn đáp ứng được các căn cứ (điều kiện) ly hôn mà pháp luật quy định, cơ quan có thâm quyền xử lý việc ly hôn có quyền bác yêu cau ly hôn. Như vậy, căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý, trong đó thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc đưa ra các điều kiện ly hôn, chỉ khi có các điều kiện đó thì yêu cầu ly hôn của vợ chồng mới được chấp nhận.Mô hình pháp luật về căn cứ ly hôn Quan điểm của người làm luật đối với căn cứ ly hôn có thê rất khác nhau do sự khác biệt về tư duy pháp lý, điều kiện kinh tế-văn hoá-xã hội, chính sách pháp luật. Một cách tổng quát, có thể phân chia các mô hình pháp luật về căn cứ ly hôn được sử dụng trong các hệ thống pháp lý tiêu biểu thành hai loại: mô hình căn cứ ly hôn dựa trên lỗi và mô hình căn cứ ly hôn không dựa trên lỗi.