Chương 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NĂNG LUC HANH VI DAN SU CUA CA NHAN 1. Khái quát chung về năng lực chủ thé 1. Khái niệm năng lực chủ thể Chủ thê đóng vai trò trọng yếu trong quan hệ pháp luật dân sự.
BLDS năm 2015 xác định 02 loại chủ thê pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Xác định đúng chủ thể trong pháp luật dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp dân sự được chính xác và đúng pháp luật. Chủ thể là cá nhân có vai trò quan trọng, là chủ thé chính điển hình và pho biến nhất trong các quan hệ pháp luật dân sự, tham gia vào nhiều loại quan hệ dân sự khác nhau, từ quan hệ mua bán, tặng cho, cho vay, cho thuê,.đến quan hệ hôn nhân, gia đình, lao động. Cá nhân được hiểu là “tự nhiên nhân”, con người của tạo hoá, bang xương bằng thịt, là cá thé độc lập sống và tồn tại trên trai đất này.
Cá nhân có thuộc tính riêng để nhận diện, phân biệt cá nhân này với cá nhân thông qua tên goi, quốc tịch, giới tính, nơi cư trú,.Hay nói cách khác, chủ thể là cá nhân có thể hiểu là con người cụ thể, là một “thành viên của xã hội loài người”, có khả năng giao tiếp, tương tác với các cá nhân khác trong xã hội. Xét trong góc nhìn xã hội, cá nhân là chủ thể của các mối quan hệ giao tiếp, là nơi phát ra các tín hiệu và đồng thời nơi nhận các tín hiệu giao tiếp của chủ thê khác trong khuôn khổ đời sống xã hội. Chế định “Cá nhân” trong pháp luật dân sự Việt Nam được quy định tại Chương III Phần thứ nhất Quy định chung từ Điều 16 đến Điều 73 Bộ Luật dân sự 2015. Cá nhân là công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch sinh song, lao động và hoc tập trên lãnh thé Việt Nam.
Các cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thiết lập, thực hiện các quan hệ và cũng tạo nên mạng lưới quan hệ xã hội vô cùng đa dạng. Khi xem xét cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất là xem xét năng lực chủ thể của cá nhân. Năng lực chủ thé không có định nghĩa hoặc quy định cụ thé, tuy nhiên căn cứ theo BLDS Việt Nam, có thê hiểu, năng lực chủ thể của cá nhân là khả năng cá nhân có thê tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là một chủ thé, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ mối quan hệ pháp luật đã tham gia. Năng lực chủ thể của cá nhân được hợp thành bởi hai bộ phận: năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Nhà nước thừa nhận và bảo hộ quyền tự do giao kết, xác lập giao dịch dân sự cho các chủ thê trong xã hội. Các giao dich dân sự có hiệu lực khi dap ứng được các điều kiện — yếu tố pháp luật quy định, trong đó bao gồm điều kiện về năng lực chủ thể tham gia vào giao dịch, sự tự nguyện của các bên tham gia, mục đích và nội dung giao dịch không trái với quy định của pháp luật và các chuẩn đực đức xã hội, hình thức giao dich,. Năng lực chủ thé đóng vai trò tiên quyết và cần xác định đầu tiên trước khi tiến hành các nội dung của giao dịch dân sự. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là là 02 bộ phận không thé tach rời dé xác định năng lực chủ thé, quyết định chủ thê có khả năng tham gia giao dich dân sự như thé nao.
Khát niệm năng lực pháp luật dân sự * Khái niệm năng lực pháp luật dân sự NLPLDS của cá nhân là khả năng, là tiền đề và là thành phần không thé thiếu được của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Cá nhân được ghi nhận là chủ thé của pháp luật dân sự nhưng cá nhân ở đây không đồng nhất với chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự hay là không đồng nhất với chủ thể hưởng quyền dân sự cũng như gánh vác nghĩa vụ. Dé có thê trở thành chủ thé hưởng quyền dân sự cũng như gánh vác nghĩa vụ, thì cá nhân đó cần phải có một dia vi, tư cách nhất định. Địa vị, tư cách đó được gọi chung là năng lực pháp luật dân sự.
Một cá nhân không thể đương nhiên có NLPLDS (tức không thé tham gia vào quan hệ pháp luật dan sự và qua đó hưởng quyên, gánh vác nghĩa vụ dân sự) ma lại không được trang bị một dia vi, một tư cách cụ thể. Và địa vị, tư cách cụ thé của cá nhân này sẽ được Nhà nước quy định và trao cho công dân nước mình và những người tham gia các quan hệ pháp luật dân sự chịu ảnh hưởng của pháp luật nước đó. Vậy, năng lực pháp luật dân sự là tư cách pháp luật dân sự trao cho mọi cá nhân dé tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự qua đó hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ dân sự. * Nội dung của năng lực pháp luật dân sự Ở Việt Nam, pháp luật ghi nhận quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng quan trọng nhất là Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hoá trong BLDS năm 2015.
Theo Khoản 1 Điều 16 BLDS 2015, NLPLDS của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự. Moi cá nhân đều bình dang về năng lực pháp luật, Khoản 2 Điều 16 BLDS năm 2015 có quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau”. Theo đó, không phân biệt các mức độ NLHVDS, không phân biệt giới tính, độ tuổi, địa vị xã hội, thành phần tôn giáo. các cá nhân khác nhau đều có NLPLDS như nhau.
Tức là, mọi cá nhân đều có khả năng như nhau về việc hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ. Mặc dù pháp luật quy định NLPLDS của cá nhân là bình đăng, nhưng NLPLDS chỉ là khả năng mà pháp luật cho phép cá nhân được hưởng các quyền dân sự và thực hiện các nghĩa vụ dân sự, dẫn đến, các cá nhân có thể được hưởng quyền dân sự như nhau nhưng việc thực hiện được nghĩa vụ dân sự lại có thể khác nhau tùy thuộc vào khả năng mỗi cá nhân đó. Do đó, dé các quyền và nghĩa vụ này trở thành hiện thực trong đời sống xã hội thì phải thông qua NLHVDS của cá nhân. Nhu phân tích ở trên, cũng có đồng quan điểm cho rằng NLPLDS của cá nhân không thê bình đăng vì lý do NLPLDS bao gồm đồng thời cả quyền và nghĩa vụ.
Vì vậy, cá nhân chỉ bình đăng về khả năng hưởng quyền mà không bình đăng về việc gánh chịu nghĩa vụ (trong trường hợp người không có NLHVDS không phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân không có NLHVDS sẽ đương nhiên không phải thực hiện nghĩa vụ nhưng về mặt pháp lí, nghĩa vụ của họ sẽ được người khác thực hiện thay họ (ví dụ: người đại diện theo pháp luật, cha, mẹ, người giám hộ. Mặt khác, nhiều trường hợp ngay cả khả năng hưởng quyền của mỗi cá nhân cũng không bình đăng. Ví dụ: Người không có NLHVDS không có cả quyền tạo lập nghĩa vụ thông qua hợp đồng lẫn không có quyền làm đại diện.
Điều 18 BLDS năm 2015 quy định là NLPLDS của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp có quy định trong văn bản pháp luật khác. NLPLDS của cá nhân không bị hạn chế cũng chính là sự thể hiện phần nào nội dung NLPLDS của cá nhân là bình đăng và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. NLPLDS của cá nhân do Nhà nước quy định cho tất cả cá nhân đồng thời cũng không cho phép cá nhân tự hạn chế NLPLDS của chính họ và của cá nhân khác. Đây có thé được coi là thuộc tính nhân thân của chủ thể và không thé dịch chuyển cho chủ thể khác.
Trong một số trường hợp nhất định, NLPLDS của cá nhân có thé bị hạn chế, tuy nhiên, việc hạn chế NLPLDS của cá nhân chi mang tính tam thời, qua một giai đoạn nhất định, nếu xét thấy cần 10 thiết thì việc hạn chế này có thể được thay đôi. Việc hạn chế được chia thành 2 loại cụ thể như sau: + Văn bản pháp luật chung quy định một nhóm chủ thé nao đó không được phép thực hiện các giao dịch dân sự cụ thể. Ví dụ như quy định cá nhân không có quyền sở hữu đối với đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất hoặc quy định người nước ngoài không có quyền sở hữu về nhà ở nên không được phép mua bán nhà ở tại Việt Nam, trừ trường hợp luật có quy định khác,. + Quyết định của cơ quan nhà nước có thấm quyên.
Vi dụ như toà án ra quyết định cấm cư trú đối với một người nào đó tức là đã hạn chế NLPLDS cụ thé của người đó trong khoảng thời gian xác định. Như vậy có thê thấy, NLPLDS của cá nhân là do ý chí của giai cấp cầm quyền tạo ra cho các chủ thể trong một xã hội nhất định và chỉ có Nhà nước mới có quyên hạn chế, tước bỏ những quyền đã trao cho các chủ thé đó. Vì vậy, không một cá nhân nào có thể dùng ý chí của riêng mình để tước bỏ quyên dân sự của minh hay của cá nhân khác. Theo Điều 17 BLDS năm 2015 quy định về nội dung NLPLDS của cá nhân thì có thé chia thành ba nhóm chính: — Thứ nhất, quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
+ Quyên nhân thân không gắn với tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm: Quyền nhân thân đặc hữu và Quyền nhân thân dựa trên thân thế (địa vị pháp lý) của chủ thể. Y Quyển nhân thân đặc hữu Các quyền nhân thân đặc hữu với tính chất hình thành song song với sự ton tại tư cách chủ thé hưởng quyền của cá nhân, được xác lập tại thời điểm cá nhân được sinh ra. Pháp luật dân sự gọi tên cụ thể các quyền nhân thân đặc hữu từ Điều 26 đến Điều 38 Bộ Luật dân sự 2015.