Chương 1: Những vân dé ly luận và quy định cua pháp luật về kiếm sát điều tra vụ án cô ý gây thương tích Chương 2: Thực tiễn kiểm sát điều tra vụ án Cô ý gây thương tích của Viện kiểm sát nhân đân quận Hà Đông, thành phô Hà Nội Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quá kiểm sát điều tra vụ ánCô ý gây thương tích trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Chuong 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE KIEM SAT DIEU TRA VỤ ÁN CÔ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH 1. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát điều tra vụ án cố ý gây thương tích 1. Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án cỗ ý gây thương tích Để làm rõ khái niệm kiểm sát điều tra vụ án cố ý gây thương tích cần làm rõ các khái niệm nội hàm, bao gồm: khái niệm vụ án cô ý gây thương tích, khái niệm kiểm sát điều tra. ~ Khái niệm vụ án cô ý gây thương tích Theo Từ điển Luật học, vụ án hình sự là “vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở BLTTHS” [5, Tr.
Nói cách khác, vụ án hình sự là vụ án có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS đã được các cơ quan có thâm quyền Tả Quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở BLTTHS. Như vậy, vụ án cô ý gây thương tích là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu của tội cỗ ý gây thương tích. Một số quan điểm đưa ra khái niệm về tội có ý gây thương tích nhưng chưa phản ánh đầy du hết các yếu tố CTTP, ví dụ: “Tội có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháclà hành vi cỗ ý gây tốn hại cho sức khỏe của người khác đưới đạng thương tích hoặc tổn thương khác” [1, Tr. 9] mới đề cấp đến yếu tố về mặt khách quan của tội phạm (hành vi và hậu quả), hoặc có khái niệm chi dé cập thêm được nội dung về chủ thế: “cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cua một người làm cho người khác bị thương hoặc tôn hại đến sức khỏe” [8, Tr.
Do đó, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội cỗ ý gây thương tích trên cơ sở Điều 8 BLHS để phản ánh đầy đủ nhất các yêu tổ CTTP đặc trưng trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Điều § BLHS: '?ði cố ý gây thương tích được hiểu là hành vì trái pháp luật được quy định trong Bộ luật hìnhsự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tôi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý gây thương tích hoặc tốn thương cho người khác ”. Tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khöe của người khác được quy định tại Điều 134 BLHS với tư cách là một tội ghép. Do hành vi và hậu quả của hai tội này có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau nên tội “có ý gây thương tích” và “cố ý gây tôn hại cho sức khỏe của người khác” được nhà làm luật xếp chưng vào cùng điều luật. Theo đó, tội cô ý gây thương tích có những đấu hiệu pháp lý đặc trưng sau: - Khách thé: Khách thê của tội cố ý gây thương tích là quyền được tôn trong và bảo vệ về sức khỏe cúa con người.
Đây là một trong những quyền hiến định, được ghi nhận tại khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 “mọi người có quyên bắt khá xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Đôi tượng của tội phạm là quyền được bảo vệ sức khỏe của từng con người cu thé bị hành vi phạm tội xâm phạm gây tốn thương cho sức khỏe. Hành vi phạm tội cổ ý gây thương tích đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của cơn người thông qua sự tác động làm biến đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động. - Mặi khách quan: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
Đó là các đấu hiệu: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả. Bên cạnh đó, mặt khách quan của tội phạm còn có những nội dung biểu hiện khác như công cụ, phương tiện, thủ đoạn, phương pháp, thời gian, địa điểm phạm tội. Hành vi khách quan của tội cô ý gây thương tích là những biểu hiện của cơn người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thê, có sự kiểm soát của ly tri và điều khiển bởi ý chí là điều kiện cần, quan trọng nhất trong các đâu hiệu thuộc mặt khách quan. Điều kiện đủ của hành vi là phái có khá năng gây ra thương tích cho người khác một cách trái pháp luật.
Những hành vĩ này được thực hiện không thông qua hoặc thông qua các công cụ, phương tiện phạm tội. Hau qua do hành vi cỗ ý gây thương tích gây ra là những thiệt hại đo hành vi khách quan gây ra cho quan hệ nhân thân, quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người. Thiệt hại này được thê hiện đưới dang thiét hai về thể chất, gây thương tích cho người khác. Việc xác định hậu quả xảy ra trên thực tế phải được xác định thông qua hoạt động giám định, bỗ trợ tư pháp, có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt.
Điều 134 BLHS quy định mức độ thương tích phải chịu TNHS dựa trên tỷ lệ ton thương co thê. Tỷ lệ tôn thương cơ thê là lượng giá mức độ tên thương cơ thể do bệnh tật, thương tật, hay bệnh nghề nghiệp dựa trên kết quả giám định pháp y, trong trường hợp cần thiết có thé dựa trên kết luận của bác sĩ điều trị khi tiếp nhận bệnh nhân. Trường hợp nếu kết luận giám định pháp y kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đưới 119% được coi là thương tích nhẹ, không phải chịu TNHS; trừ khi tý lệ tến thương cơ thể đưới 11% thuộc các trường hợp phạm tội từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS. - Chủ thể: Chủ thể của tội cô ý gây thương tích là người có năng lực TNHS đạt độ tuổi nhật định và đã thực hiện hành vi phạm tội.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, chủ thê có khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đồng thời có khả năng điều khiển được hành vi ấy, Điều 12 BLHS quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS§ về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến đưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rat nghiém trong, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134 BLHS. Theo do, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNH§ về tội có ý gây thương tích trong mọi trường hợp; người từ đủ 14 tuổi đến đưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội cô ý gây thương tích theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 của Điều luật. - Mặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội có ý gây thương tích bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
Người phạm tội cố ý gây thương tích chỉ bị cơi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quá của sự tự lựa chọn của chủ thế, họ ý thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và kiểm soát được hành ví của mình. Tội có ý gây thương tích luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi có ý (có thể là cỗ ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Ngoài đâu hiệu lỗi, động cơ, mục đích phạm tội không phái là đấu hiệu bắt buộc trong CTTP cơ bản. Tuy nhiên, trong một số CTTP tăng nặng, dâu hiệu động cơ, mục đích được xác định là dâu hiệu bắt buộc 10 làm cơ sở cho việc xác định đúng tội danh và phân biệt tội cố ý gây thương tích với một số tội phạm khác.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về vụ án cỗ ý gây thương tích nhw sau: Vu dn cé ý gây thương tích là vụ án có dấu hiệu tội có ý gây thương tích theo quy định của Bộ luật hình sự, đã được cơ quan có thâm quyền khởi tổ vụ án để điều tra, truy lễ, xét xử theo quy định của Bộ luật 16 tụng hình sự. * Khái niệm kiểm sát điều tra Hiển pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107). Lần đầu tiên, trong Luật tổ chức Viện kiếm sát nhân dân năm 2014 đưa ra khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp: “Kiểm sái hoạt động tr pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đề kiểm sát tính hợp pháp của các hành vĩ, quyết định của cơ quan, tô chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết lỗ giác, tin báo về lội phạm, kiến nghị khỏi tô và trong suỐt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vị án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thì hành án, việc giải quyết khiếu nai, 16 cdo trong hoại động tr pháp; các hoại động tr pháp khác theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 4). Trong lĩnh vực tố tụng hình sự hình sự, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng oan, sai và bỏ lọt tội phạm.
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với chức năng thực hành quyền công tố. Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có quyền thực hiện các biện pháp nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan có thâm quyên tiễn hành các hoạt động tư pháp. Trên cơ sở đó, VKSND có quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, cá nhân khắc phục vi phạm.