Chương I: Khái quát về vấn dé chứng c ứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Chương II: Thực trạng quy định và á p dụng quy định của pháp luật về chứ ng cứ và chứng minh Chương III: Phương hướng, nhu cầu, nội dung hoàn thiện quy định của phá p luật về chứng cứ và chứng minh Chương | KHÁI QUAT VE CHUNG CU VA CHUNG MIN H TRONG TO TUNG DAN SU 1. Khái niệm chứng cứ Chứng cứ là một vấn dé rất quan trọn g trên góc độ lý luận cũng như thực tiễn. Trong tố tụng dân sự, khi đư ơng sự nộp đơn khởi kiện đến Toà án thì trước đó đã tồn tại những tình tiết, sự kiện xảy ra gắn liền với quan hệ p háp luật trong vụ việc dân sự liên quan đế n yêu cầu của đương sự. Mặc dù nhữ ng tình tiết, sự kiện này đã xảy ra trướ c khi đương sự nộp đơn đến Toà nh ưng nó vẫn lưu lại những dấu vết trong thế gi ới khách quan.
Để làm rõ tình tiết, sự kiện này, Toà án sẽ phải xem xét chú ng trong mối liên hệ với nhau trên cơ sở xem xét riêng rẽ từng chứng cứ đ ể xác định giá trị chứng minh củ a chúng. Chứng cứ có nhiều hình thức tồn tại của nó, có thể chứng cứ được lưu trong trí nhớ con người, có thể được lưu lại trên những tài liệu , giấy tờ hoặc một vật cụ thể. Quá trình xác địn h đâu là chứng cứ cho vụ việc dân sự là rất quan trọng và phức tạp. Do đó , để xác định như thế nào g ọi là chứng cứ mà Toà án có thể sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự là rất cần thiết.
Nhận diện được bản chất của chứng cứ như th ế nào để không nhầm lẫn chứng cứ với một số khái niệm khác, hơn nữa xác đị nh cơ sở pháp luật mà các bên dựa vào đó để xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự là vấ n dé cần được quan tâm để giải quyết vụ việc dân sự. tụng dân sự. Các đương sự chủ động giao nộp cho Toà án nhữn g chứng cứ liên quan, chứng minh cho yêu cầu của mình. Như vậy, đươn g sự đã thể hiện thái độ hợp tác một cách tích cực nhất với Toà án; bởi lẽ hơn ai hết, đương sự, những người khởi kiện mong muốn làm sáng tỏ chân tư ớng của sự việc, mong muốn Toà án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ vi ệc, bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Cá c đương sự đưa ra chứng cứ là một trong những cách thức đầu tiên bảo vệ qu yền và lợi ích hợp pháp của chính họ. Vì vậy, làm rõ khái niệm chứng cứ là một vấn đề cần thiết góp phần giải quyết vụ việc dân sự đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Theo Từ điển tiếng Việt thì chứng cứ được quan niệm là “Cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là có that”, cò n theo Điều 81 BLTTDS năm 2004 thì: “Ching cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộ p cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án làm căn cứ để xác định yêu câu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần th iết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Lần đầu tiên trong BLTTDS, khái niệm “chứng cứ ” được đưa ra khá rõ ràng và cụ thể.
Khái niệm chứng cứ được hình th ành từ quy luật: chứng cứ khi đã sinh ra thì không bao giờ mất đi, nó chỉ có thể chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác, mọi sự vật có mối liên hệ phổ biến. Như vậy, chứng cứ trong thế giới khách quan có thể chỉ tồn tại dưới mộ t hình thức vật chất nhưng cũng có thể tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nh au. Có dạng tồn tại của chứng cứ chúng ta có thể nhìn thấy được, cầm nắm được như giấy tờ, tài liệu như bản hợp đồng, bản di chúc.nhưng có khi chứng cứ lại được lưu giữ trong trí nhớ con người. Dưới hình thức tồn tại này chứn g cứ được thể hiện qua lời khai của họ về những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự.
Đ ể phù hợp với hình thức tồn tại trên của chứng cứ Toà án đã có nhiề u cách thức để khai thác những chứng cứ qua việc triệu tập đương sự để lấy lời khai, kết hợp với những biện pháp khác để chứng cứ, để giải quyết vụ án đây đủ, chứng cứ phát huy được giá trị của nó. Khái niệm chứng cứ là vấn đề được qua n tâm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và cũng được quan tâm sâu sắc trong pháp luật một số n ước trên thế giới. Ví dụ như BLTTDS của Cộng hoà Liê n bang Nga quy định tại chương 6 với nội dung chứng cứ trong TTDS là những sự thật khách quan. Khái niệm này đã nêu được một cách tổng quá t về chứng cứ, tuy nhiên vẫn chưa nêu được bản chất của chứng cứ là những gì nói lên sự thật khách quan, phản á nh sự thật khách quan, chứng cứ khôn g đồng nghĩa là sự thật khách quan.
Có nghĩa là khái niệm chứng cứ chưa ph ản ánh bản chất của chứng cứ mà đi sâu vào việc giải thích khái niệm chứng c ứ hơn, không phản ánh được nội hàm của chứng cứ trong lý luận cũng như t hực tiễn. Trong pháp luật tố tụng dân sự Nhật B ản, khái niệm chứng cứ được đưa ra rất chi tiết tại tiểu mục 1, mục 1 chương VỊI BLTTDS Nhật Bản: “C hứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được toà án công nhận và là mo t tu liệu, cơ sở thông qua đó toà án đượ c thuyết phục là một tình tiết nhất đ ịnh tôn tại hay không”. Theo các nhà luật học của Nhật Bản thì chữ chứng cứ có nghĩa là một trong những điều sau: Phươn g pháp chứng cứ (nó là một thứ vật chất mà thẩm phán sử dụng như là đối tượn g của việc xem xét chứng cứ. Chứng c ứ con người bao gém nhân chứng, giám định viên và các bên, và c ác chứng cứ đó thẩm phán được thuyết phục về sự tồn tại hay không tồn tại của tình tiết trong số liệu chứng cứ).
Do đó, lờ i trình bày không đáng tin cậy c ủa nhân chứng là tư liệu chứng cứ chứ không phải là nguyên nhân của chứng cứ; h ay bản thân các hành vi chứng minh (hà nh vi tố tụng được một bên thực hiện nhằm thuyết phục thẩm phán về sự tồn tạ i hay không tồn tại của tình tiết. Nó bao gồm cả việc đưa ra chứng cứ, xem xét nhận chứng, giải thích chứng cứ và V.) Có thể thấy khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự Nhật Bản đã phản ánh một cách cụ thể các thuộc tính của chứng cứ, giải thích rõ ràng, c ụ thể chứng cứ tồn tại ở những dạng nà o. Vì vậy, nó mang nhiều tiết liệt kê mà tại của chứng cứ. Cách đưa ra khái n iệm này không khái quát được vấn đ ề dẫn đến khái niệm trở nên phức tạp và kh ó hiểu.
Ở Quebec (Canada), các nhà nghiên cứu phá p luật còn đưa ra một quan điểm khá mới và cũng cần thiết lưu tâm, xe m xét đó là các nhà nghiên cứu đưa ra hai hệ thống tồn tại của lý th uyết về chứng cứ. Hệ thống thứ nhất là niềm tin nội tâm, nghĩa là Thẩm phán h oàn toàn tự mình có quyền quyết định tin hay không tin vào các phương tiện chứng cứ do các đương sự cung cấp. Thứ hai là chứng cứ theo luật pháp hệ t hống này chứng cứ được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chứng minh, tính xác thực của một sự kiện trước Toà án. Theo định nghĩa này thì phương tiện chứng minh nằm trong khái niệm của chứng c ứ.
thiết đưa ra khái niệm về chứng cứ phản ánh thế giới khách quan , khái quát được ban chất và đầy đủ thuộc tính của chứng cứ chứ không chỉ phản ánh riêng một thuộc tính hoặc một phần bả n chất của chứng cứ. Đặc điểm chứng cứ Để có thể hiểu một cách sâu sắc nhất khái niệm chứng cứ, chúng ta phải nghiên cứu các đặc điểm chứng cứ. Tính khách quan Khách quan là những gì tồn tại khô ng phụ thuộc vào ý chí của con người. Mặc dù những tình tiết, sự ki ện trong vụ việc dân sự do con ngườ i tạo ra và Toà án, các đương sự có thể thu thập, cung cấp chứng cứ nhưng không tạo ra chứng cứ.
Tuy vậy, con người có thể tác động vào chứ ng cứ để nghiên cứu, phân tích chúng để tìm ra sự thật, diễn biến từ đâu đến khi kết thúc vụ việc dân sự đã xảy ra trong thực tế , tạo lập, xây dựng lại quá trình p hát sinh, tồn tại, kết thúc của vụ việc dân sự khi các đương sự đưa đến Toà án, yêu cầu Toà án giải quyết. Trong những sự kiện, tình tiết mà c ác chủ thể chứng minh thu thập đượ c có tình tiết, sự kiện là của vụ v iệc nhưng cũ ng có tình tiết, sự kiện do con người tạo ra nhằm tạo ra sự nhâm lẫn trong việc sử dụng, đánh giá c hứng cứ của Toà án. Chính vì vậy, khi giải q uyết vụ việc, Thẩm phán phải nghiê n cứu một cách kỹ lưỡng để tránh sự nhầm lẫn giữa chứng cứ do con người tạo ra và chứng cứ trong vụ việc dân sự. Mu ốn tránh sự nhầm lẫn này, Thẩm p hán cần phải đặt chúng trong mối liên hệ vớ i nhau và cùng với sự việc đã xảy ra bằng các phương pháp cách thức khác n hau, không được bỏ sót một tình tiết nào dù đó là tình tiết nhỏ nhất.
Trên thực tế tình tiết, sự kiện tồn tại ở nhiều hìn h thức khác nhau mà có những tình tiết, sự kiện muốn đánh giá chính xác cần phải có sự hỗ trợ của kiến thức chuyên môn. Tóm lại, chứng cứ phản ánh khá ch quan sự thật của vụ việc, những cái kh ông phản ánh khách quan (do tạ o ra sau đó) không phải là chứng cứ.