Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học: Nghiên Cứu Về Chấm Dứt Doanh Nghiệp Theo Pháp Luật Việt Nam

Khóa luận đánh giá Thạc Sĩ Luật Học: Chấm Dứt Doanh Nghiệp Theo ..., tiếp cận đa chiều, kết quả có tính khả thi cao trong lĩnh vực luật

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Lý luận về chấm dứt doanh nghiệp

Luận văn thạc sĩ luật học tập trung phân tích các vấn đề lý luận về chấm dứt doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam. Khái niệm doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản, trụ sở ổn định, và được đăng ký kinh doanh. Chấm dứt doanh nghiệp được hiểu là quá trình kết thúc sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm các hình thức như giải thể, phá sản, hợp nhất, sáp nhập, và chuyển đổi hình thức. Quyền tự do kinh doanh là nền tảng pháp lý cho việc chấm dứt doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư khi quyết định kết thúc hoạt động kinh doanh.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý

Chấm dứt doanh nghiệp không chỉ là sự kết thúc về mặt pháp lý mà còn liên quan đến các nghĩa vụ tài chính và lao động. Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các trường hợp chấm dứt như chia, hợp nhất, sáp nhập, và chuyển đổi. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ 'chấm dứt tồn tại' trong luật còn mơ hồ, không phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của quá trình này. Bộ luật Dân sự 2005 cũng đề cập đến chấm dứt pháp nhân, nhưng các quy định này còn thiếu chặt chẽ, đặc biệt là trong việc xác định thời điểm chấm dứt và trách nhiệm pháp lý liên quan.

1.2. Phân loại chấm dứt doanh nghiệp

Chấm dứt doanh nghiệp được phân loại thành hai nhóm chính: tự nguyện và bắt buộc. Giải thể là hình thức chấm dứt tự nguyện, khi doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu kinh doanh hoặc không còn khả năng tiếp tục hoạt động. Phá sản là hình thức bắt buộc, khi doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ. Ngoài ra, các hình thức khác như hợp nhất, sáp nhập, và chuyển đổi cũng được xem là chấm dứt doanh nghiệp, nhưng thực chất chỉ là sự thay đổi hình thức pháp lý.

II. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành về chấm dứt doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Các quy định về giải thểphá sản chưa đầy đủ, tạo ra rào cản pháp lý cho nhà đầu tư. Thủ tục chấm dứt doanh nghiệp phức tạp, gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Luật Doanh nghiệp 2005 gần như không có sự thay đổi so với các quy định trước đó, dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất.

2.1. Quy định về giải thể doanh nghiệp

Giải thể doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, nhưng các điều kiện và thủ tục còn thiếu rõ ràng. Việc xác định thời điểm chấm dứt và trách nhiệm pháp lý sau giải thể chưa được quy định cụ thể, dẫn đến nhiều tranh chấp phát sinh. Bảo vệ người thứ ba trong quá trình giải thể cũng chưa được quan tâm đúng mức, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ và người lao động.

2.2. Quy định về phá sản doanh nghiệp

Phá sản doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Luật Phá sản 2014, nhưng các quy định về xác định tình trạng phá sản và thủ tục mở thủ tục phá sản còn nhiều hạn chế. Việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và người lao động trong quá trình phá sản chưa được đảm bảo, dẫn đến tình trạng mất cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan.

III. Định hướng hoàn thiện pháp luật

Luận văn thạc sĩ luật học đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chấm dứt doanh nghiệp. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện quy định pháp luật, cải thiện thủ tục hành chính, và tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật. Việc hoàn thiện pháp luật sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, chủ nợ, và người lao động, đồng thời thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả.

3.1. Giải pháp lập pháp

Cần sửa đổi Luật Doanh nghiệpLuật Phá sản để quy định rõ ràng hơn về các trường hợp chấm dứt doanh nghiệp, điều kiện, và thủ tục thực hiện. Đồng thời, cần bổ sung các quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba trong quá trình chấm dứt doanh nghiệp, đảm bảo sự công bằng và minh bạch.

3.2. Giải pháp thi hành

Cải thiện hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực thi pháp luật về chấm dứt doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và hiệu quả.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤM DỨT DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Doanh nghiệp Từ góc nhìn ngôn ngữ, từ “enterprise” của tiếng Anh thường được dịch sang tiếng Việt hiện nay là “Doanh nghiệp”, nhưng những năm đầu của thời kỳ đổi mới theo Nghị quyết Trung ương VI, người ta đã từng dịch là “xí nghiệp”). Ở Liên hiệp Vương quốc Anh có đạo luật được gọi là “Enterprise Act 2002”. Trong Đạo luật này, tại Điều 129 quy định nguyên văn tiếng Anh: “Enterprise” “means the activities, or part of the activities, of a business” [54, tr 46] tức là nó được xem là các hoạt động, hoặc một phần của các hoạt động của một việc kinh doanh.

6 Theo Deluxe Black’s Law Dictionary, “enterprise” trong pháp luật Hoa Kỳ được hiểu theo hai nghĩa với các hoàn cảnh khác nhau. Nghĩa chung nhất xem “enterprise là công cuộc, dự án hay cam kết kinh doanh” [58, tr 531]. Như vậy có thể hiểu “enterprise” là một hành vi thương mại. Tuy nhiên, người ta thường hiểu doanh nghiệp là thực thể kinh doanh: Doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp”, và “công ty là một loại hình doanh nghiệp với năm đặc điểm cơ bản i) là pháp nhân; ii) tách biệt và là chủ thể pháp lý độc lập với chủ sở hữu” [50, tr 6].

Pháp luật Doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay cũng xác định Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh, cụ thể Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Như vậy, khái niệm doanh nghiệp theo quan niệm của pháp luật Việt Nam thường dùng để chỉ những chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh, bao gồm cả Doanh nghiệp tư nhân mà bản chất của Doanh nghiệp này chỉ là cá nhân kinh doanh. Thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam cho thấy, việc xem xét tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm thậm chí không chấp nhận doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể của quan hệ pháp luật.

Quan điểm này đang hiện hữu tại các Phòng Đăng ký kinh doanh, biểu hiện cụ thể là họ không chấp nhận Doanh nghiệp tư nhân là một cổ đông hay thành viên Công ty TNHH. Có lẽ quan điểm này xuất phát từ việc quy định thiếu thống nhất về tư cách chủ thể của Doanh nghiệp tư nhân trong Pháp luật 7 Doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể: Với quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp thì DNTN đương nhiên được hiểu là một chủ thể kinh doanh: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, với quy định tại Khoản 3 Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNTN không được coi là một chủ thể của quan hệ pháp luật: Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.

Trên cơ sở làm rõ một số quan điểm về bản chất Doanh nghiệp và để thống nhất trong nghiên cứu, Luận văn đã giới hạn phạm vi nghiên cứu và chỉ tập trung nghiên cứu việc chấm dứt Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005. Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý chấm dứt doanh nghiệp 1. Khái niệm và bản chất pháp lý chấm dứt doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp 2005 không có khái niệm cụ thể về chấm dứt doanh nghiệp, tuy nhiên có quy định một số trường hợp cụ thể về chấm dứt doanh nghiệp. Cụ thể: Khoản 3 Điều 150 quy định: Công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được đăng ký kinh doanh; Khoản 4 Điều 152 quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại; điểm c Khoản 2 Điều 153 quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; Khoản 3 Điều 154 quy định: Sau khi đăng ký kinh 8 doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt tồn tại; Đối với trường hợp giải thể thì Luật quy định: cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh.

Điều 99 BLDS 2005 quy định về chấm dứt pháp nhân, theo đó pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp: hợp nhất pháp nhân; sáp nhập pháp nhân; chia pháp nhân; giải thể pháp nhân; Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản. Pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xoá tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp thì Bộ luật Dân sự không quy định trường hợp châm dứt do chuyển đổi hình thức pháp nhân. Chỉ với việc quy định các trường hợp chấm dứt pháp nhân, pháp luật Việt Nam hiện hành đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn và đặc biệt là nhận thức về chấm dứt pháp nhân còn quá mơ hồ, việc dùng thuật ngữ quá tuỳ tiện, cụ thể: Bộ luật Dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “chấm dứt pháp nhân”.

Tác giả cho rằng việc dùng thuật ngữ này đảm bảo tính chính xác và đầy đủ về mặt pháp lý. Tuy nhiên, Bộ luật này quy định các trường hợp chấm dứt pháp nhân là chưa phù hợp. Bởi lẽ pháp nhân chưa thể chấm dứt trong các trường hợp: hợp nhất pháp nhân; sáp nhập pháp nhân; chia pháp nhân. Vấn đề này có thể luận giải như sau: Đối với trường hợp hợp nhất pháp nhân: Bản chất pháp lý của vấn đề này là hai hoặc nhiều pháp nhân được hợp nhất lại thành pháp nhân mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang pháp nhân mới.

Sự kiện pháp lý này có thể dùng cách ví von như “con dã tràng sống trong vỏ ốc, chui từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng của mình” [19, tr 181]. Trường hợp này, các quyền yêu cầu và nghĩa 9 vụ của doanh nghiệp vẫn tồn tại. Do vậy, không thể coi là chấm dứt doanh nghiệp. Tương tự, việc sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân thì trách nhiệm liên đới vẫn hiện hữu và quyền yêu cầu của người thứ ba cũng vẫn được đảm bảo.

Do vậy, không thể coi đó là chấm dứt doanh nghiệp. Như vậy, việc chấm dứt có thể được chấp nhận đối với trường hợp: giải thể pháp nhân và pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản. Thời điểm chấm dứt được xác định kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này không đảm bảo tính chặt chẽ, bởi lẽ việc xóa tên thường không đi liền với việc xóa bỏ mọi trách nhiệm, hay việc xóa tên không đương nhiên là căn cứ chấm dứt quyền yêu cầu của người thứ ba đối với pháp nhân, bởi một trong những quyền hiến định của các chủ thể là được bảo hộ về quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp.

Luật Doanh nghiệp, với tư cách là luật chuyên ngành, nhưng không những không đủ “dũng cảm” để sử dụng quyền năng pháp lý của mình, mà còn “rón rén” và thiếu tri kiến pháp lý cơ bản khi quy định về chấm dứt doanh nghiệp. Cụ thể, Luật này sử dụng thuật ngữ “chấm dứt tồn tại” đối với các trường hợp công ty bị chia; công ty bị hợp nhất; công ty bị sáp nhập; công ty được chuyển đổi. Về mặt pháp lý, chấm dứt tồn tại theo quy định của Luật doanh nghiệp được hiểu như thế nào: + Đối với công ty bị chia, Luật Doanh nghiệp quy định “Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số các công ty 10 đó thực hiện các nghĩa vụ này”. Như vậy, nghĩa vụ của công ty bị chia chưa chấm dứt, quyền yêu cầu của người thứ ba vẫn hiện hữu.

Chỉ có tên gọi của Công ty bị chia là không còn tồn tại. + Đối với công ty bị hợp nhất, Luật Doanh nghiệp quy định: Sau khi đăng ký kinh doanh, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại; công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất. + Tương tự, đối với công ty bị tách Luật Doanh nghiệp quy định: công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thoả thuận khác. Từ các luận giải nêu trên cho thấy, chấm dứt tồn tại của Doanh nghiệp, theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ đơn thuần là chấm dứt sự tồn tại của tên gọi Doanh nghiệp đó mà thôi.

Và về thời điểm chấm dứt, Luật xác định là sau khi đăng ký kinh doanh. Đối với trường hợp giải thể thì xác định từ thời điểm bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh. Với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp 2005, tác giả cho rằng chấm dứt doanh nghiệp là chấm dứt tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp. Sự kiện pháp lý này phát sinh làm chấm dứt nghĩa vụ của Doanh nghiệp đối với người thứ ba, chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của Doanh nghiệp – người thứ ba chấm dứt quyền yêu cầu đối với Doanh nghiệp.

Khác với chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, chỉ là chuyển đổi hình thức kết cấu của doanh nghiệp, không làm chấm dứt hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này không có tiêu đề cụ thể, nhưng có thể cung cấp những thông tin hữu ích về các khía cạnh khác nhau của SEO và tối ưu hóa website. Độc giả sẽ tìm thấy những điểm chính liên quan đến việc cải thiện thứ hạng tìm kiếm, tối ưu hóa nội dung và nâng cao trải nghiệm người dùng trên các trang web. Những lợi ích mà tài liệu mang lại bao gồm việc giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của các công cụ tìm kiếm và cách áp dụng các chiến lược SEO hiệu quả để thu hút nhiều lưu lượng truy cập hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Tiểu luận thảo luận nhóm tmu tối ưu hóa website httphonglinhsoft com trên công cụ tìm kiếm google, nơi bạn sẽ tìm thấy các phương pháp cụ thể để tối ưu hóa website cho Google. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tối ƣu hóa website khacdauankhanh com vn trên các công cụ tìm kiếm cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các chiến lược SEO khác nhau. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ phân tích hành vi khách hàng trên website và giải pháp marketing trực tuyến để hiểu rõ hơn về cách hành vi của người tiêu dùng ảnh hưởng đến hiệu quả của các chiến lược SEO. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về SEO và tối ưu hóa website.