Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và các hình thức đầu tư; Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật về các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014; Chương 3: Khuyến nghị thực thi các quy định về hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ 1.
Khái quát về đầu tư Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư. Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận hay lợi ích kinh tế xã hội. Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây: - Trước hết phải có vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác.
Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. 7 - Thời gian đầu tư, thường tương đối dài từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, thậm chí theo luật từng nước có thể dài hơn nữa lên tới 99 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hi n trên hai mặt: Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Khái quát về sự ra đời và phát triển của pháp luật đầu tư Sau ngày 30/4/1975, nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn củng cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Lúc này, trong bối cảnh nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh lâu dài, nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vượt qua bao thử thách và khó khăn chồng chất. Chúng ta đã có nhiều cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thiết lập và củng cố chính quyền nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và mang nặng tính chất tự cấp tự túc. Trình độ trang bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng, văn hoá-xã hội lạc hậu; năng suất lao động xã hội rất thấp.
Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng một nước nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối nặng nề trên nhiều mặt, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài, chủ yếu là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô. Tình trạng chia cắt, khép kín ở từng đơn vị, từng ngành và từng địa phương còn phổ biến. Cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp để lại nhiều hậu quả tiêu cực. Nền kinh tế hoạt động với hiệu quả rất thấp, chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp và một số ngành công nghiệp phụ vụ đời sống nhân dân.
8 Với một thực trạng kinh tế xã hội như vậy, để thực hiện được nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đã khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai trò vô cùng quan trọng” (Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976). Thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/NĐ-CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quy riêng biệt nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài thời kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam. Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1977, mới có 2 năm sau thống nhất đất nước, nhà nước bắt tay vào công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, với một đội ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm làm kinh tế, cũng như quản lý kinh tế, với một cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, với một đường lối kinh tế chỉ công nhận 2 thành phần kinh tế, đó là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế Hợp tác xã.
Hơn nữa chúng ta lại là một nước xã hội chủ nghĩa, thế mà chúng ta đã mạnh dạn đưa ra một khung pháp lý như vậy, quả là một sự cố gắng rất cao, một “tầm nhìn xa trông rộng” hơn nhiều so với một số nước xã hội chủ nghĩa khác. Điều này cho thấy, tuy chưa được công nhận trong các văn kiện của Đảng, cũng như chưa được thể chế hoá trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế với Điều lệ đầu tư năm 1977 đã phần nào minh chứng cho tư duy lúc đó chúng ta đã nghĩ tới việc kết hợp với tư bản nước ngoài trong một khuôn khổ pháp lý để khôi phục phát triển kinh tế. Điều lệ đầu tư năm 1977 đã đề cập đến, tạo ra được khung pháp lý sơ khai cho hoạt động đầu tư nước ngoài, đây là những tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này, ngay cả Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để nâng cấp, hoàn thiện thêm. 9 Có thể khẳng định Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1977 là tiền đề và đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật về đầu tư sau này tại Việt Nam.
Qua quá trình phát triển và mở rộng hội nhập quốc tế,Việt Nam đã không nhừng hoàn thiện thể chế. Các Luật Đầu tư lần lượt được ra đời. Năm 1987 nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đáp ứng chủ trương đó Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của sự ra đời hệ thống cơ sở pháp lý các hoạt động và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo thống kê trong năm 1987, Việt Nam thu hút được 213 dự án, tổng vốn đăng ký 1,793 tỷ USD Qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã bộc lộ những bất cập cần được sửa chữa và để phù hợp với tình hình mới luật sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990; Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 lần lượt được ra đời, khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987.
Giai đoạn này thu hút đầu tư nước ngoài đã nâng lên 459 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD, trong đó vốn FDI (Foreign Direct Investment- Vốn đầu tư nước ngoài) tăng tốc. Làn sóng đầu tư thứ nhất bắt đầu vào Việt Nam bắt đầu khởi sắc. - Sau gần 10 năm triển khai và thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 1990 và năm 1992 nhưng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đầu tư tại Việt Nam. Năm 1996 nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam trở thành thị trường thương mại có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, để kịp thời đón nhận được những nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
10 - Nhằm tạo điều kiện xích gần giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000. Trong năm 2000 thu hút FDI có dấu hiệu chậm lại do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chỉ đạt 2,838 tỷ USD. - Việc thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư trong nước vẫn nằm ở hai đạo luật khác nhau và có những điều chỉnh khác biệt trong đối xử, ưu đãi đầu tư.