CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 1. Một số lý luận cơ bản về liên kết trong chuỗi cung ứng 1. Các khái niệm về liên kết, chuỗi cung ứng và các thành viên trong chuỗi cung ứng 1. Liên kết và các nguyên tắc liên kết a.
Liên kết Theo Hoàng Phê thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ. Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (David.Pearce, 1999) thì “Liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển.
Điều kiện này thường đi kèm sự tăng trưởng bền vững.” Cụ thể hơn có thể hiểu rằng liên kết kinh tế là sự biểu hiện của các hình thức hợp tác giữa các thành phần riêng rẽ, phản ánh mối quan hệ sự phân công lao động trong các quá trình sản xuất xã hội của các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế. Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý. Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước.
Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo 12 ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp nhau để có khoản thu nhập cao nhất. Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết. Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu… Các hình thức liên kết, mô hình liên kết sẽ được tác giả trình bày ở mục bên dưới của luận văn. Các nguyên tắc trong liên kết Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các liên kết phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các bên tham gia liên kết đều phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng.
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của mọi liên kết. Dù được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995). Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết. Các liên kết chỉ thành công và đạt hiệu quả khi được xây dựng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết.
Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết mọi năng lực nội tại của mình, xây dựng lên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt, vì lợi ích chung, đồng thời đem đến khả năng cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết. Mọi liên kết được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995). 13 Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia liên kết. Trong liên kết kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo gắn kết lâu dài cho các bên tham gia.
Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hỏi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp. Cơ chế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp thiết nhất. Trong từng mối liên kết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau. Ngoài cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên tham gia được bình đẳng với nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm (Dương Bá Phượng, 1995).
Bốn là, phải được thực hiện trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia liên kết và thông qua hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia làm ăn với nhau, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Trong nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau. Cho nên để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh chấp giữa các quan hệ kinh tế với nhau đều phải có “khế ước” hay “hợp đồng kinh tế” được ký kết theo đúng pháp luật.
Đối với hoạt động liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại càng cần phải được tiến hành thông qua “hợp đồng kinh tế”. Nó còn là những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ liên kết ngày càng bền chặt hơn. Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia liên kết thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình (Dương Bá Phượng, 1995). Năm là, đối với các tổ chức liên kết kinh tế, cần phải được tiến hành hoạt động thông qua “điều lệ” của tổ chức liên kết kinh tế đó.
“Điều lệ” là những qui định về tôn chỉ mục đích, nội dung và cơ chế hoạt động của một tổ chức được tự nguyện sáng lập giữa các thành viên. Nó qui định những quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viên gia tổ chức, những điều được phép và không 14 được phép để đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích chung của các thành viên và sự tồn tại lâu dài, phát triển của tổ chức. Có thể nói, đây là cơ sở pháp lý để ràng buộc các thành viên tham gia tổ chức lại với nhau (Dương Bá Phượng, 1995).2 Chuỗi cung ứng Cho đến hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng khác nhau từ đó đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng. Trong giới hạn của đề tài tác giả xin đưa ra một vài định nghĩa tiêu biểu như sau: Theo định nghĩa của Lambert, Stock và Elleam (1998), chuỗi cung ứng là sự kết hợp giữa các doanh nghiệp nhằm đưa ra sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường.
Theo định nghĩa của Lee & Bilington (1995), chuỗi cung ứng (supply chain) là hệ thống các công cụ để chuyển hóa nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm và thông qua các hệ thống phân phối chuyển tới người tiêu dùng. Theo định nghĩa của Ganeshan & Harrison (1995) thì chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng (Supply chain) là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên vật liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng”. Theo định nghĩa của Christopher (2016), chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết theo dòng chảy ngược và xuôi của những quá trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia vào quy trình sản xuất, vận chuyển và bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng, một cách trực tiếp hay một cách gián tiếp. Trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng chuỗi cung ứng (Supply chain) không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn các công ty vận tải (logistics), kho vận, nhà bán lẻ và khách hàng của nó. 15 Trong chuỗi cung ứng, hoạt động của mỗi thành phần thuộc chuỗi là quá trình hoạch định, triển khai, kiểm soát dòng hàng hóa, dịch vụ, thông tin liên quan….từ điểm đầu vào của mắt xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp để đảm bảo sự thống nhất, vận hành trơn tru của toàn chuỗi. Có thể hiểu bản thân mỗi một thành viên trong chuỗi cung ứng lại có một chuỗi cung ứng nội bộ thu nhỏ, bao gồm: Bộ phận sản xuất và các bộ phận chức năng (tài chính, công nghệ thông tin, phát triển sản phẩm mới, tiếp thị, bán hàng, phân phối và dịch vụ khách hàng).
Tóm lại chúng ta có thể nhìn nhận chuỗi cung ứng thông qua 3 hoạt động cơ bản nhất: Cung cấp, sản xuất, phân phối Hình 1: Chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn Vilas.