CHƯƠNG 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về pin nhiên liệu Pin nhiên liệu là thiết bị chuyển hoá trực tiếp năng lượng hóa học thành điện năng từ phản ứng của các nhiên liệu (H2, CH3OH, CH4…) với chất oxy hóa (O2, không khí…) tạo ra dòng điện, và các sản phẩm phụ là nhiệt, nước và một lượng CO2 không đáng kể trong một số loại pin nhiên liệu như Direct methanol fuel cell (DMFC) hay Molten carbonate fuel cell (MCFC) [11]. Pin nhiên liệu thông thường đều sử dụng phản ứng đơn giản giữa hydrogen và oxygen tạo ra nước.
Một cục pin thông thường được thiết kế cho các thiết bị cầm tay hoặc làm các nguồn phát điện thì bên trong pin chứa các tác chất phản ứng để tạo ra dòng điện, khi nhiên liệu cạn kiệt thì pin cũng sẽ không tạo ra năng lượng được nữa, nhưng đối với pin nhiên liệu, nó không chứa bất kì nhiên liệu nào bên trong mà toàn bộ nhiên liệu đều được cung cấp từ nguồn bên ngoài. Vậy nên chỉ cần nhiên liệu được cung cấp thì pin sẽ hoạt động liên tục. Do đó, có thể định nghĩa pin nhiên liệu là loại pin không cần sạc. Sự đơn giản của phản ứng hóa học xảy ra trong pin nhiên liệu làm cho nó được thu hút về mặt công nghệ và hơn nữa chính sự an toàn với môi trường (sản phẩm phụ của pin nhiên liệu chỉ là nước và sự thất thoát nhiệt) [2,12] là chìa khóa then chốt trong việc nó được lựa chọn để nghiên cứu.
Lịch sử hình thành pin nhiên liệu Đầu thế kỷ XIX, đã có nhiều nhà khoa học đưa ra khái niệm về pin nhiên liệu tiêu biểu trong số đó là Humphry Davy. Năm 1839, William Grove, một nhà hóa học, vật lý, luật sư và là người đầu tiên phát minh ra acqui khí (Gas battery). Ông đã tiến hành một loạt thí nghiệm mà ông gọi nó là pin Volta khí, và cuối cùng đã chứng minh rằng dòng điện có thể được sản xuất từ một phản ứng điện hóa học giữa hydro và oxy trong một chất xúc tác Platin. Thí nghiệm của William Grove với 2 ống thủy tinh chứa khí H2 và O2 bọc điện cực platin ngâm trong H2SO4 loãng, ông nhận thấy có xuất hiện dòng 1 chiều.
Thí nghiệm của William Grove Năm 1889, Charles Langer và Ludwig Mond đã tiếp tục phát triển thành quả mà trước đó William Grove đã làm được. Họ đã thay thế nguồn hydro bằng khí than và họ cũng là những người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Pin nhiên liệu” (Fuel cell). Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế nên những nghiên cứu của họ không được ứng dụng rộng rãi. Năm 1932, Giáo sư Francis Bacon đã tiếp tục phát triển thêm mô hình bằng cách thay thế điện cực Platin bằng Niken và thay chất điện giải axit sulphuric bằng một chất ít ăn mòn là Kali hydroxyt (KOH).
Ông đã đặt tên cho sản phẩm này là pin Bacon (Bacon cell). Đây cũng là loại pin nhiên liệu kiềm đầu tiên. Những năm 1950, một khái niệm rất mới là pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEMFC) đã xuất hiện và trong giai đoạn này pin nhiên liệu thật sự được nhiều lĩnh vực quan tâm hơn đặc biệt là lĩnh vực vũ trụ. Sở dĩ như vậy là do một số nguyên nhân đã gặp phải khi sử dụng những nguồn năng lượng khác như trọng lượng khá lớn của acquy, năng lượng hạt nhân thì nguy hiểm còn năng lượng mặt trời thì vẫn còn khá mới lạ.
Vào những năm 1960, pin nhiên liệu đã được đưa vào ứng dụng trong lĩnh vực quân sự và nó được sử dụng để cung cấp điện trên những loại tàu ngầm thời đó. Tiếp sau nó được Liên Xô đưa vào chương trình không gian có người lái. Những năm 1970 đến 1980, ảnh huởng của cuộc khủng hoảng năng luợng cùng với những nhận thức sâu sắc về việc bảo vệ môi trường, đã thúc đẩy nhiều tổ chức nghiên cứu và dùng pin nhiên liệu như một nguồn năng lượng hữu ích, nhằm 18 thay thế những loại năng lượng có chi phí rất cao và khả năng gây ô nhiễm môi trường lớn kia. DMFC cũng đã xuất hiện và phát triển trong khoảng thời gian này.
Trong những năm này, chương trình pin nhiên liệu quốc tế đã phát triển một loại pin nhiên liệu kiềm công suất lớn hơn cho Vệ tinh tàu con thoi của NASA (NASA’s Space Shuttle Orbiter). Vệ tinh sử dụng năng lượng 3 thiết bị pin nhiên liệu để cung cấp hoàn điện và nước uống trong suốt chuyến bay mà không có bất cứ một pin dự phòng nào. Mỗi pin có khả năng cung cấp 12 kW điện liên tục và 16 kW điện trong thời gian ngắn. Pin nhiên liệu của NASA Đầu những năm 1990, pin nhiên liệu đã tiến lên thêm một bước mới.
Nếu như trước đây hầu như ứng dụng chủ yếu trong những lĩnh vực nông nghiệp và một ít về không gian thì ở giai đoạn này nó được đưa vào một lĩnh vực rất quan trọng đó là công nghiệp. Giai đoạn cũng gắn liền với sự chuyển công nghệ từ PEMFC (Proton exchange membrance fuel cell - 6 PEMFC) sang SOFC (Solid oxide fuel cell - SOFC), đồng thời cũng nhen nhóm lên khả năng thương mại hóa trên thị trường. Những năm gần đây pin nhiên liệu đã được thương mại hóa sử sụng một cách rộng rãi trong đời sống hằng ngày, hơn hết trong những phương tiện đi lại. Nhiều công ty sản xuất ô tô lớn trên thế giới đã đưa ra những mẫu xe có sử dụng pin nhiên liệu như: General Motor, Ford (Mỹ), Daimler Benz (Đức), Renaul (Pháp), Toyota, Nissan, Honda .3 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của pin nhiên liệu 1.1 Cấu tạo pin nhiên liệu Hình 1.
Cấu tạo của một pin nhiên liệu cơ bản. Một pin nhiên liệu đơn giản gồm có hai điện cực là anode (là điện cực mà trên đó xảy ra quá trình oxy hóa) và cathode (là điện cực mà trên đó xảy ra quá trình khử), anode và cathode được làm từ kim loại, carbon hoặc ống than nano, được phủ chất xúc tác để tăng hiệu suất của pin nhiên liệu. Chất xúc tác có thể là hạt nano platinum, paladium, hay hợp kim của các kim loại này. Giữa hai điện cực là chất điện giải (electrolyte) dùng để vận chuyển các hạt ion từ điện cực này sang điện cực kia, tùy thuộc vào từng loại pin nhiên liệu mà chất điện giải có thể ở thể rắn, có thể ở thể lỏng hoặc có cấu trúc màng (gốm hoặc màng polymer, …).
Loại màng được sử dụng trong các pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ thấp thường là nafion, chỉ cho phép những ion thích hợp đi qua giữa anode và cathode của pin nhiên liệu mà không cho phép các electron di chuyển qua nó. Ngoài ra, để thúc đẩy các phản ứng hóa học xảy ra, người ta còn bổ sung chất xúc tác vào giữa các điện cực và chất điện giải bằng nhiều cách khác nhau tùy theo từng loại pin nhiên liệu. Chất xúc tác có thể là vật liệu của điện cực, hoặc là một chất khác được đặt tiếp xúc giữa các điện cực và lớp điện phân hoặc được phủ trực tiếp lên điện cực, chất điện phân. Mặc dù chất xúc tác trong các loại pin nhiên liệu có thể khác nhau về vật liệu và cấu tạo, nhưng chúng đều có cùng công dụng là thúc đẩy các phản ứng hóa học xảy ra ở các điện cực, giảm năng lượng hoạt hóa của quá 20 trình hóa học.
Chất xúc tác thường dùng trong pin nhiên liệu là platinum và hợp kim của platinum với các kim loại khác như Ru, Ni, Co, … 1.2 Nguyên tắc hoạt động. Nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu hydrogen đã được chứng minh lần đầu tiên tại Viện khoa học Luân Đôn bới các nhà khoa học Anh và Willian Grovein 1839. Ông khám phá ra một quá trình hóa học điện tương đối đơn giản nơi mà hydro và oxy tương tác trong một pin để tạo ra điện, nhiệt và nước. Hai nhiên liệu cơ bản cần thiết cho pin nhiên liệu hydro vận hành chỉ đơn giản là hydrogen và oxygen.
Lợi thế hấp dẫn của pin nhiên liệu là ở chỗ nó tạo ra dòng điện sạch, rất ít ô nhiễm, do sản phẩm phụ của quá trình phát điện cuối cùng chỉ là nước, không hề độc hại. Có nhiều kiểu pin nhiên liệu và mỗi kiểu vận hành một cách khác nhau tùy thuộc vào loại nhiên liệu và chất điện giải sử dụng trong pin. Tuy nhiên, quá trình hoạt động của pin thường tuân theo nguyên tắc cơ bản sau: Nhiên liệu đi vào ngăn anode bị oxy hóa, hình thành ion H+ mang điện tích dương (proton) cùng với electron. Các electron mang điện tích âm không đi qua được màng nafion nên không thể di chuyển trực tiếp từ anode sang cathode mà phải đi vòng qua một đoạn mạch bên ngoài, tạo ra dòng điện một chiều.
Khí oxy được cung cấp đến cathode của pin nhiên liệu sẽ nhận các electron này, tạo thành các ion (O2-). Trong một số dạng pin nhiên liệu, các ion O2- này sẽ kết hợp với các ion H+ vừa đi qua chất điện giải từ anode của pin nhiên liệu để tạo thành nước. Trong một số dạng pin nhiên liệu khác, các ion oxy sẽ di chuyển qua chất điện giải đến anode, gặp và kết hợp với các ion hydro ở đó để tạo thành nước. Ở một số loại pin nhiên liệu sử dụng nhiên liệu hydrocarbon (CH4, CH3OH, …), sản phẩm tạo ra của pin còn có thể có CO2, nhưng lượng CO2 do pin nhiên liệu tạo ra ít hơn nhiều so với động cơ đốt trong thông thường.
Trong pin nhiên liệu, các electron di chuyển từ anode sang cathode thông qua một mạch điện bên ngoài, nên dòng điện đi qua mạch điện có chiều từ cathode sang anode. Vì vậy, cathode là điện cực dương và anode là điện cực âm của pin nhiên liệu (hình 1. 21 Chất điện phân đóng vai trò quyết định chủ chốt. Nó chỉ cho phép những ion thích hợp đi qua giữa anode và cathode; vì nếu electron tự do hay các chất khác cũng có thể đi qua chất điện phân này, chúng sẽ làm hỏng các phản ứng hóa học.
Dù cùng gặp ở anode hay cathode, kết hợp với nhau, hydrogen và oxygen cuối cùng cũng tạo ra nước, thoát ra khỏi pin. Pin nhiên liệu sẽ liên tục phát điện khi vẫn được cung cấp hydrogen và oxygen. Dưới đây là hai phản ứng cơ bản trong một pin nhiên liệu (nhiên liệu sử dụng là hydrogen và oxygen) mà phản ứng tồng quát của chúng chính là phản ứng nghịch của quá trình điện phân nước: Phản ứng trên anode: 2H2 → 4H+ + 4e- (1.1) Phản ứng trên cathode: O2 + 4H+ + 4e-→ 2H2O (1.2) Tổng quát: 2H2+ O2 → 2H2O + năng lượng (điện) + nhiệt (1.