phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tranh ảnh và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Khái quát kinh tế nông nghiệp huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định trƣớc năm 1986 Chƣơng 2: Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (1986 – 2015) Chƣơng 3: Nhận xét về kinh tế nông nghiệp huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (1986 – 2015) e 9 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH TRƢỚC NĂM 1986 1. Những điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Hoài Nhơn, tỉnh B nh Định 1. Điều kiện tự nhiên Hoài Nhơn có vị trí chiến lƣợc quan trọng, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phía Bắc tỉnh Bình Định. Sự hình thành và phát triển của vùng đất này gắn bó với bao thăng trầm trong lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta.
Tên gọi “Hoài Nhơn” chính thức có từ đời nhà Lê, năm Hồng Đức thứ I (đầu năm 1471), dƣới thời vua Lê Thánh Tông. Phủ Hoài Nhơn lúc này gồm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, với địa giới kéo dài đến tận núi Thạch Bi (Phú Yên ngày nay). Sau đó Hoài Nhơn đƣợc đ i thành phủ Quy Nhơn (1602), Bình Định thành (1797). Thời Pháp thuộc, Hoài Nhơn là một trong 7 phủ, huyện của tỉnh Bình Định.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với việc t chức lại cơ cấu chính quyền các cấp, phủ Hoài Nhơn đ i thành huyện Hoài Nhơn cho đến ngày nay [101, tr. Hoài Nhơn là huyện ven biển phía Bắc tỉnh Bình Định. Phía Bắc giáp huyện Đức Ph (tỉnh Quảng Ngãi), phía Nam giáp huyện Phù Mỹ, phía Tây giáp huyện Hoài Ân và An Lão, phía Đông giáp biển Đông. Toàn huyện có 15 đơn vị hành chính cấp xã và 2 thị trấn là thị trấn Bồng Sơn và thị trấn Tam Quan.
Theo hƣớng Đông Tây, Hoài Nhơn là cửa ngõ hƣớng biển của hai huyện Hoài Ân và An Lão, là điểm đầu của các tuyến tỉnh lộ 629, 630 và 639 nối liền các huyện trong tỉnh. Đặc biệt toàn huyện có bờ biển dài 24 km với 2 cửa biển là An Dũ và Tam Quan, với 6/15 đơn vị hành chính cấp xã nằm ven biển nhƣ: Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Thanh, Hoài Hƣơng, Hoài e 10 Mỹ và Hoài Hải, có tuyến đƣờng ĐT 639 nên rất thuận lợi cho sự giao lƣu với tất cả các địa phƣơng trong cả nƣớc và đây là lợi thế để phát triển kinh tế, xã hội nói chung và kinh tế biển nói riêng. Huyện Hoài Nhơn có diện tích đất tự nhiên là 41.295 ha, toàn huyện có thể chia thành 3 dạng địa hình, trong đó vùng đồng bằng và vùng cồn cát ven biển nằm ở hạ lƣu sông Lại Giang và các sông suối nhỏ. Vùng này nằm ở phía Bắc của huyện, thƣờng bị chia cắt bởi các cồn cát và đụn cát tạo thành một dải hẹp chạy dọc ven biển, tạo nên nhiều đầm, hồ và cửa biển là tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển [67, tr.
Nhƣ vậy, huyện Hoài Nhơn có hai vùng kinh tế rõ rệt đó là vùng kinh tế biển gồm các xã ven biển nhƣ Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Thanh, Hoài Hƣơng, Hoài Mỹ, Hoài Hải và vùng kinh tế trung du miền núi. Về khí hậu, Hoài Nhơn là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa nắng, mƣa khá rõ rệt. Mùa nắng thƣờng kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8; mùa mƣa thƣờng từ tháng 9 đến tháng 12, tạo sự chuyển lƣu nguồn nƣớc. Nhiệt độ trung bình là 280C.
Huyện Hoài Nhơn có sông Lại Giang đƣợc hội tụ bởi sông Kim Sơn (Hoài Ân) và sông An Lão (An Lão) hợp lại, chảy qua địa bàn huyện Hoài Nhơn rồi đ ra cửa biển An Dũ (Hoài Hƣơng). Đây là con sông lớn nằm ở phía Nam huyện, có lƣu lƣợng bình quân 58,6 m3/s, tƣơng ứng với lƣợng nƣớc đạt 1. Ngoài ra, còn có một số sông, suối nhỏ chủ yếu nằm ở phía Bắc huyện [2, tr. Vùng đồi gò phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây huyện, đây là địa hình chuyển tiếp giữa vùng núi với vùng đồng bằng.
Diện tích chiếm 10% t ng diện tích tự nhiên. Vùng đồng bằng và ven biển phân bố thành dải tập trung ven biển. Diện tích chiếm 20% t ng diện tích tự nhiên. Thực vật chính là lúa, hoa màu và cây công nghiệp hàng năm.
Đây là vùng có địa hình bằng e 11 phẳng, đất đai có độ phì nhiêu cao, có khả năng tƣới tiêu chủ động, nên hiện tại và lâu dài là vùng sản xuất cây lƣơng thực và cây công nghiệp hàng năm tập trung quy mô lớn của huyện và tỉnh. Về tài nguyên thủy sản, Hoài Nhơn có bờ biển dài 24 km với 02 cửa biển Tam Quan và An Dũ. Vùng biển Hoài Nhơn có khoảng 500 loài cá, trong đó 38 loài cá có giá trị về kinh tế, quý hiếm và có giá trị xuất khẩu cao. Về tài nguyên rừng, Hoài Nhơn có trên 19.877,72 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất: 11.904,69 ha, rừng phòng hộ 7.
Về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện tƣơng đối đa dạng nhƣ: Cát trắng phân bố ở xã Hoài Châu, quặng vàng phân bố ở xã Hoài Đức, đá xanh phân bố ở xã Hoài Châu Bắc, đá Granite phân bố ở xã Hoài Phú, đất sét phân bố ở xã Hoài Đức và xã Hoài Tân, Titan ở các xã ven biển. Với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, đã tạo cho Hoài Nhơn khai thác các thế mạnh về kinh tế nông nghiệp và tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên rừng, biển,…mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, giao lƣu văn hóa, thông thƣơng buôn bán với các huyện trong tỉnh và trong cả nƣớc. Mặt khác, với vị trí địa lý này cũng đặt Hoài Nhơn vào một trong những huyện có vị trí phòng thủ từ phía biển để bảo vệ vùng trời, vùng biển của T quốc. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.
Đặc điểm kinh tế - xã hội Hoài Nhơn có thế mạnh kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và kinh tế biển. Trong đó, kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển đóng vai trò quan trọng.219 ha đất nông nghiệp, trong nhiều năm qua ngƣời dân Hoài Nhơn đã áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất, đƣa nền kinh tế nông nghiệp của huyện phát triển mạnh, với nhiều giống cây trồng mới và cây rừng đã phủ xanh hàng nghìn e 12 hecta đất trống, đồi núi trọc. Đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản là thế mạnh kinh tế thứ hai đƣa Hoài Nhơn phát triển. Nhiều sản phẩm thủy hải sản n i tiếng của huyện nhƣ: cá ngừ đại dƣơng, vây cƣớc cá, cá chuồn, tôm, mực,…đã trở thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị sang các thị trƣờng lớn nhƣ: Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu, đã góp phần đáng kể vào sự tăng trƣởng nền kinh tế của địa phƣơng.
Nhân dân Hoài Nhơn có truyền thống hiếu học, tôn sƣ trọng đạo, mảnh đất này đã sinh ra những ngƣời con đỗ đạt để giúp đời, giúp nƣớc. Đặc biệt, có ông Đặng Đức Siêu ngƣời huyện Bồng Sơn (Hoài Nhơn) đỗ kì thi Hƣơng và đƣợc b vào Hàn Lâm Viện. Nhờ vào trình độ học vấn uyên bác, năm Minh Mạng thứ sáu (1825), ông đƣợc triều đình truy tặng Đại học sĩ. Dƣới thời Lê có ông Đào Duy Từ vốn ngƣời quê Tĩnh Gia (Thanh Hóa) khi đi thi Hƣơng bị phát hiện lai lịch nên đã đu i khỏi trƣờng thi.
Ông phẫn chí rời quê vào cƣ ngụ tại làng Tòng Chi (Ngọc Sơn – xã Hoài Thanh Tây). Ông đƣợc Khám lý Quy Nhơn là Trần Đức Hòa tiến cử với triều đình nên ông đƣợc b nhiệm làm quan. Ông là ngƣời có công lớn giúp dân khai phá các vùng đất phía Tây các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ thành những cánh đồng màu mỡ. Tƣởng nhớ công lao ông, nhân dân đã lập đền thờ và ông đƣợc liệt vào hàng công thần thƣợng đẳng.
Hoài Nhơn còn là mảnh đất màu mỡ cho văn hóa dân gian đâm chồi, nở hoa đầy hƣơng sắc của địa phƣơng. Ngƣời dân Hoài Nhơn ra sức gìn giữ và phát triển dòng võ dân tộc nhằm tự vệ, bảo vệ quê hƣơng, xóm làng. Văn hóa dân gian phong phú với nhiều thể loại độc đáo, ca dao, tục ngữ, hò vè, hát kết, bài chòi,…Hai bộ môn nghệ thuật sân khấu dân tộc là dân ca bài chòi, tuồng c phát triển khá mạnh mẽ, thƣờng đƣợc biểu diễn trong lễ hội Văn hóa miền biển; lễ hội Cầu ngƣ; lễ hội Cá Ông,… đã thu hút đông đảo du khách tham gia. Nhìn chung, tiềm năng kinh tế của huyện Hoài Nhơn khá đa dạng, ngƣời e 13 dân Hoài Nhơn cần cù, khéo tay và năng động.
Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Hoài Nhơn ra sức xây dựng và bảo vệ quê hƣơng trong thời kỳ đ i mới, nhanh chóng đƣa Hoài Nhơn trở thành một trung tâm hành chính, kinh tế - xã hội lớn ở phía Bắc tỉnh Bình Định. Đặc điểm về dân cư Hoài Nhơn là huyện đồng bằng ven biển, thế kỷ XV cƣ dân đầu tiên của ngƣời Việt di dân vào lập nghiệp và khai phá phủ Hoài Nhơn, các làng xã từ đó cũng đƣợc hình thành. Trải qua các thời kỳ lịch sử, với bàn tay khéo léo và đức tính cần cù, nhân dân Hoài Nhơn đã xây dựng quê hƣơng ngày càng tƣơi đẹp. Với khát vọng vƣơn tới tự do, ấm no, hạnh phúc, nhân dân vừa tham gia các phong trào yêu nƣớc chống giặc ngoại xâm, vừa cần cù mở mang khai phá các vùng đất hoang thành các cánh đồng màu mỡ, biến bãi cát khô cằn ven biển thành những bãi cát vàng.
Dân số huyện Hoài Nhơn tăng bình quân 1,09% mỗi năm trong giai đoạn 1996 – 2005. Từ đầu những năm 90 trên địa bàn huyện số lao động tăng nhanh.500 ngƣời bƣớc vào tu i lao động. Từ năm 2000 đến 2010, có đến 25.000 ngƣời đến tu i lao động.000 ngƣời bƣớc vào tu i lao động. Nguồn lao động trẻ, lao động dƣới 30 tu i chiếm tỷ trọng cao (56%), trong đó lao động thủy sản chiếm 17%; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ khoảng 12%.
Chất lƣợng lao động còn thấp, không đồng đều giữa các vùng trong huyện và giữa các ngành kinh tế. Với mật độ dân số cao là điều kiện thuận lợi cho Hoài Nhơn phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.