chương 1, kinh nghiệm thực tiễn của Trung Quốc ở chương 2, những hạn chế về chính sách thu hút dự án CDM ở Việt Nam, những khó khăn thách thức trong giai đoạn tới nêu ở phần đầu chương 3, Luận văn đề xuất hàm ý nhằm cải thiện chính sách thu hút dự án CDM vào Việt Nam. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CDM VÀ DỰ ÁN CDM 1.1 Giới thiệu nghị định Kyoto và co chế phát triển sạch (CDM) 1. Nội dung chính trong nghị định thư Kyoto Nghị định thư Kyoto là một cam kết được tiền hành dựa trên các nguyên tắc của chương trình khung của Liên hiệp quốc về van đề biến đổi khí hậu. Trong đó những quốc gia tham gia ký kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác, hoặc có thé tiến hành biện pháp thay thé như buôn bán phát thải nếu như không muốn đáp ứng yêu cau đó.
Nghị định Kyoto được ký kết bởi các quốc gia tham gia Liên hiệp quốc và được điều hành dưới các nguyên tắc do tô chức này qui ước. Các quốc gia được chia làm hai nhóm: e Nhóm các nước phát triển, còn gọi là nhóm nước thuộc Phụ lục I (sẽ phải tuân theo các cam kết nhằm cắt giảm khí gây hiệu ứng nhà kính) và buộc phải có bản đệ trình thường niên về các hành động cắt giảm khí thải. e Nhóm các nước không thuộc Phụ lục I (không chịu ràng buộc các nguyên tắc ứng xử như Annex I nhưng có thể tham gia vào Chương trình cơ chế phát triển sạch). Ké từ tháng 1/2008 đến hết năm 2012, nhóm nước Annex I phải cắt giảm lượng khí thai dé lượng khí thải ra thấp hơn 5% lượng khí vào năm 1999 (với nhiều nước thánh viên Châu Âu, mức này tương đương khoảng 15% lượng khí họ thải ra vào năm 2008).
Mục tiêu hướng đến việc giảm thiểu các loại khí carbon dioxide, methane, nitơ ôxít, lưu huỳnh hexafluorua, clorofluorocarbon và perflourocarbon trong khoảng thời gian 2008-2021. Mức trần đã được quy định cho các nước tham gia cụ thể là 8% mức cắt giảm cho Liên minh Châu âu và 7% cho Hòa kỳ, 6% với Nhật Bản, 0% với Nga trong khi mức hạn ngạch cho phép tăng của Úc là 8% và 10% cho Iceland. Các quốc gia thuộc Phụ lục I không đáp ứng được yêu cầu đặt ra như trong bản ký kết sẽ phải cắt giảm thêm 1.3 lượng khí vượt mức cho phép trong thời hạn hiệu lực tiếp theo của nghị định thư. Mục tiêu chính của Nghị định Kyoto là nhằm ôn định nồng độ khí nhà kính (GHG) trong khí quyền ở mức có thé ngăn ngừa được trước những tác động của con người, cân bằng lại lượng khí thải trong môi trường ở mức độ có thể ngăn chặn những tac động nguy hiểm cho sự tổn tại và phát triển của con người vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường.
Công ước đã được cụ thể hoá bằng nghị định thư Kyoto (ra đời tháng 12/1997 và có hiệu lực từ 16/02/2005) với những quy định về tỉ lệ giảm phát thải đối với các quốc gia phát triển và các hình thức xử phạt nếu không tuân thủ. Nghị định thư bắt buộc những quốc gia thành viên bằng mọi giá cần phải cắt giảm phát thải khí nhà kính của họ xuống 5% so với mức phát thải tại thời điểm năm 1990. Đây thực sự là trách nhiệm nặng né đối với những quốc gia công nghiệp hóa. Ba cơ chế mềm dẻo đã đạt được thỏa thuận trong Nghị định thư Kyoto nhằm giúp những nước thuộc Phụ lục I có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển, đó là: - Cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation - JI): cho phép các nước thuộc Phụ lục I thực hiện đầu tư các dự án giảm phát thải hoặc thu hồi khí nhà kính từ khí quyền ở các nước thuộc Phụ lục I khác với chi phi thấp hơn so với thực hiện ở nước sở tại và đôi lại nước sở tại sẽ nhận được các đơn vị giảm phat thai (EURs) có được từ dự án và sử dụng chúng dé thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải đã cam kết của mình trong Nghị định thư.
- Co chế buôn bán quyền phat thải quốc tế (International Emission Trade - IET): cho phép các nước thuộc Phụ lục I có thé trao đối với nhau quyên phat thải du thừa của mình thông qua hoạt động thương mại. - Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism - CDM): cho phép các nước thuộc Phụ lục I có được chứng nhận giảm phát thải (CERs) bằng cách đầu 10 tư vào các nước không thuộc Phụ lục I thông qua các dự án đầu tư giảm phát thải với chi phí thấp hơn tại nước sở tại. Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia thuộc Phụ lục I với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Giới thiệu về cơ chế phát triển sạch (CDM).1 Định nghĩa CDM, dự án CDM Cơ chế phát triển sạch (CDM) là cơ chế hợp tác quy định tại Điều 12 của Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
CDM là cơ chế duy nhất có liên quan tới các nước đang phát triển và là một phương thức mềm dẻo tạo thuận lợi cho việc thực thi Nghị định thư Kyoto, cho phép nhóm nước phát triển buộc phải giảm mức thải khí nhà kính (nhóm nước thuộc Phụ lục I) đầu tư các dự án giảm phát thải tại các nước đang phát triển với mức chỉ phí rẻ hơn so với thực hiện tại chính nước đó. Theo điều 17 của Nghị định thư Kyoto thì hạn ngạch thực hiện dự án CDM của các nước thuộc phụ lục I là từ 10 — 30% lượng khí thải phải cắt giảm của các quốc gia này. Trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, CDM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các nước đang phát triển. Cơ chế này giúp các nước đang phát triển nhận được nguồn đầu tư mới từ nước ngoài và tiếp nhận các công nghệ cao, thân thiện với môi trường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ thống khí hậu.
Các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế đầu tư vào các dự án nhằm giảm phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển, dé nhận được tin dụng dưới dạng các "Chứng chỉ giảm phát thải". Khoản tín dụng này được dùng để tính vào chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính của các nước công nghiệp phát triển, giúp họ tuân thủ những cam kết về giảm phát thải định lượng nêu trong Nghị định thư Kyoto. Dé dam bảo rang việc giảm phát thải từ các dự án CDM là “ Có thật, đo lường được và triển khai trong dài hạn” và bố xung cho bat kỳ việc gì có thé xảy ra 11 trong trường hợp không có các hoạt động của dự án được chứng nhận, các dự án CDM sẽ được kiểm tra bởi (DOE) cơ quan tác nghiệp được chỉ định theo quy tắc của (EB) ban điều hành CDM. Các dự án đủ điều kiện dé thực hiện theo nguyên tắc của cơ chế CDM được gọi là dự án CDM.
Dự án CDM thuộc loại dự án đầu tư, chủ yếu là đầu tư từ nước ngoài, vì vậy các dự án CDM tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, trong đó có Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 thang 11 năm 2005 và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.2 Lĩnh vực áp dụng và hình thức dau tư dự án CDM. Theo quy định chung của quốc tế, dự án CDM được xây dựng trong 15 lĩnh vực sau đây: a) Sản xuất năng lượng; b) Chuyên tải năng lượng; c) Tiêu thụ năng lượng; đ) Nông nghiệp; đ) Xử lý, loại bỏ rác thải; e) Trồng rừng và tái trồng rừng; ø) Công nghiệp hóa chất; h) Công nghiệp chế tạo; 1) Xây dựng; k) Giao thông; D Khai mỏ hoặc khai khoáng; m) Sản xuất kim loại; n) Phát thải từ nhiên liệu (nhiên liệu răn, dầu và khí); o) Phát thải từ sản xuất và tiêu thụ Halocarbons và Sulphur hexafluoride; p) Sử dụng dung môi. 12 Các dự án CDM được khuyến khích đầu tư trước hết là dự án ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, thân thiện với môi trường, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, giảm ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ khí hậu, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Địa bàn khuyến khích đầu tư tập trung vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Hình thức dau tư từ nước ngoài vào dự án CDM gồm: a) Nhà đầu tư cung cấp vốn vay với lãi suất có định, đối lại họ được nhận phần lợi ích có được từ dự án để trừ vào một phần tiền cho vay; b) Nhà đầu tư góp cô phần vào dự án dé được chi phan lợi ích có được từ dự an; c) Nhà đầu tư cung cấp công nghệ hoặc cấp bản quyền công nghệ cho dự án dé được nhận phần lợi ích có được từ dự án. Vốn đóng góp từ các nhà đầu tư nước ngoài (thuộc các quốc gia phát triển) cho một dự án CDM có thé là một phần, toàn phần, cho vay hoặc thuê tài chính hoặc hợp đồng mua CERs. Các bên xây dựng dự án chủ động hoặc thông qua tô chức tư van có liên quan dé tìm và thỏa thuận với nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư, công nghệ và phương thức phân chia lợi ích có được từ dự án CDM một cách thích hợp nhất. Khi xây dựng Văn kiện dự án, các bên xây dựng dự án phải kết hợp với nhà đầu tư và nếu có thể cả với một Tổ chức nghiệp vụ được chỉ định, dự kiến được chọn để đánh giá dự án trước khi gửi Ban chấp hành quốc tế về Cơ chế phát triển sạch dé đăng ký thực hiện.
Các Tổ chức nghiệp vụ được chỉ định do Ban chấp hành quốc tế về Cơ chế phát triển sạch tuyển chọn và ủy quyền cho hoạt động theo từng chuyên ngành liên quan đến các lĩnh vực được xây dựng dự án CDM.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút các dự án CDM.