CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP. Tổng quan về chiến lược 1. Khái niệm chiến lược Trước đây, chiến lược được xem như fồng thể đài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu lâu đài. Nhà nghiên cứu lịch sử quản ly, Alfred D.Chandler (1962) cho rằng “chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và thực hiện chương trình hoạt động cùng với việc phân bổ các nguôn lực cân thiết để đạt được những mục tiêu ấy”.
Đồng ý với quan niệm này, theo William Gluech (1980) “Chiến lược là một kế hoạch thống nhất dễ hiế: tổng hợp được soạn thảo để đạt được mục tiêu” hoặc “Chiến lược là kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và phối hợp được thiết kế đề đảm báo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện ”. Như vị „ tư tưởng trước đây thể hiện rõ chiên lược là một quá trình hoạch định có tính sáng suốt, trong đó doanh nghiệp lựa chọn những mục tiêu cho mình, xác định chương trình hành động đẻ hoàn thành tốt nhất những mục tiêu đó và tìm cách phân bổ nguồn lực tương ứng. Phương thức tiếp cận truyền thống có ưu điểm là giúp các doanh nghiệp dễ dàng hình dung ra công việc cần làm để hoạch định chiến lược và thấy được lợi ích của chiến lược với phương diện là kế hoạch dài hạn. tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh luôn biến động như ngày nay cho thấy được hạn chế của tiếp cận truyền thống do nó không có.
khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Hiện nay, chiến lược có thẻ rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hay đặt kế hoạch thực hiện. Định nghĩa về chiến lược của Micheal Porter, theo ông: “{1) chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gôm các hoạt động khác biệt. Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc lựa chọn các hoạt động khác với đối thủ cạnh tranh (cũng có thể là các hoạt động khác biệt hoặc cách thức hiện các hoạt động khác biệt); (2) Chiến lược là sự chọn lựa, đánh đỗi trong cạnh tranh.
Diém cét lõi là chọn những gì cân thực hiện và những gì không cần thực hiện; (3) Chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tắt cả các hoạt động của công ty. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hội nhập, hợp nhất của chúng" (M.Porter, What is Strategy, Harvard Business Review, Nov-Dec 1996). Trong điều kiện hiện nay, khi môi trường có những thay đổi lớn và diễn ra hết sức nhanh chóng, thì cằn quan tâm đến định nghĩa của Johnson G và Scholes K. (1990), theo các tác giả này “Chiến lược là định hướng và phạm vì của một tô chức về dài hạn, nhằm giành lợi thé cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguôn lực của nó trong môi trường thay đối, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”.
Cách tiếp cận hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh doanh và phát huy tính sáng tạp của các thành viên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, khả năng dự báo được những điều kiện để thực hiện chiến lược và đánh. giá được giá trị của các chiến lược đột biến. Hệ thống chiến lược trong công ty 1.
Các cấp chiến lược Hệ thống chiến lược trong công ty thường được phân thành 3 cấp: a. Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty hướng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vỉ của cả công ty. Ở cấp này, chiến lược phải trả lời các câu hỏi: các hoạt động nào có thể giúp công ty đạt được khả năng sinh lời cực đại, giúp công ty tồn tại và phát triển ? vì vậy có vô số chiến lược cấp công ty với những tên gọi khác nhau, mỗi tác giả có thé phan loại, gọi tên theo cách riêng của mình. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tông thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thê.
Vấn đề cơ bản của doanh nghiệp cần phải giải quyết khi lựa chọn chiến lược kinh doanh, đó là: họ sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hgay dịch vụ nào; cách thức tạo ra sản phẩm hay dịch vụ ấy; và làm cách nào để đưa sản phẩm và dịch vụ đến khách hàng. Điều cốt yếu của chiến lược. kinh doanh là: “lựa chọn thực hiện các hành động tạo ra sự khác biệt hay là thực hiện các hoạt động khác hơn so với đối thủ”. Chiến lược cắp chức năng Chiến lược cấp chức năng hay còn gọi là chiến lược hoạt động là chiến lược của các bộ phận chức năng (marketing, dịch vụ khách hàng, phát triển sản xuất, tài chính,.
Các chiến lược này giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trong phạm vi công ty, do đó giúp các chiến lược kinh doanh, chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu. Các loại chiến lược cấp kinh doanh Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày cảng khốc liệt, công ty phải tạo ra được lợi thế lợi thế cạnh tranh, được thê hiện dưới hai hình thức cơ bản: chỉ phí thấp nhất hoặc khác biệt hóa sản phẩm. Theo Michael Porter, kết hợp hai hình thức cơ bản của lợi thế cạnh tranh với phạm vi hoạt động của công ty sẽ hình thành nên ba chiến lược cạnh tranh tông quát: chiến lược chỉ phí thấp nhất; chiến lược khác biệt hóa sản phẩm; và chiến lược tập trung. Mỗi chiến lược trong các chiến lược trên như một kết quả lựa chọn một cách nhất quán của công ty về sản phẩm, thị trường, và các khả năng tao sự khác biệt - các lựa chọn này cũng ảnh hưởng lẫn nhau, thể hiện qua bảng I.
Lựa chọn thích hợp cho từng chiến lược trong số 3 chiến lược chung Chiến lược dẫn [ Chiến lược tạo sự | Chiến lược tập đạo chỉ phí khác biệt trung Tạo sự khác biệ| Thấp (chủ yêu | Cao (chủ yêu băng | Thấp tới cao (giá sản phẩm bằng giá) sự độc đáo) hay độc đáo) Phân đoạn thị| Thấp (thị trường |Cao (nhiều phân | Thấp (một hay một trường, khối lượng lớn) — | đoạn thị trường) __ | vài phân đoạn) Năng lực tạo sự | Chế tạo và quản trị | Nghiên cứu và phát | Bất kỳ thể mạnh khác biệt vật liệu triển, bán hàng và | nào (tủy thuộc và marketing chiến lược chỉ phí thấp hoặc khác biệt hóa) a. Chiến lược dẫn đạo chỉ phí: là tổng thể các hành động nhằm cung cap các sản phẩm hay dịch vụ có các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chỉ phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh. Hàm ý của người theo. đuổi chiến lược dẫn đạo chỉ phí là giành được một lợi thế chỉ phí đáng kể so với các đối thủ khác, để cuối cùng chuyên thành các công cụ hấp dẫn khách hàng giành thị phần lớn hơn.
Với sự thành công của chiến lược này, người dẫn đạo chỉ phí sẽ có được hai lợi thế cạnh tranh: (¡) người dẫn đạo chỉ phí có thể đòi hỏi mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh mà vẫn có được cùng mức lợi nhuận, bởi vì chỉ phí của nó thấp hơn. (ii) Người dẫn đạo chỉ phí sẽ có thể trụ vứng hơn so với các đối thủ cạnh tranh, khi số các dối thủ trong ngành tăng và buộc các công ty cạnh tranh giá, bởi nó có chỉ phí thấp hơn. Chiến lược tạo sự khác bi à tạo ra cái mà toàn ngành đều công nhận *độc nhất, vô nhị”. Khác biệt hóa có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức eu dang, chất lượng sản phẩm, nhãn mác thương hiệu, dịch vụ khách hàng.
Mục tiêu của chiến lược khác biệt hóa sản phâm là để đạt được lợi thế cạnh tranh của công ty bằng cách tạo ra các sản phẩm mà được khách hàng nhận thầy là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng. Công ty tạo sự khác biệt có thỏa mãn nhu cầu khách hàng theo. cách thức mà các đối thủ cạnh tranh không thể làm với ý định sẽ đòi hỏi mức giá tăng thêm (một mức giá đáng kể trên mức trung bình ngành) e. Chiến lược tập trung: khác biệt chủ yếu với hai chiến lược trên là nó hướng trực tiếp vào phục vụ nhu cầu của nhóm hay phân đoạn khách hàng hạn chế.
một chiến lược tập trung sẽ hướng vào khe hở của thị trường cụ thể mà có thê xác định về phương diện địa lý, loại khách hàng, hay bởi phân đoạn của tuyến sản phẩm. Một khi đã chọn một phân đoạn thị trường, công ty theo đưởi một chiến lược tập trung sử dụng cách tiếp cận khác biệt hóa, hoặc là cách tiếp cận chỉ phí thấp. Tóm lại, việc quản trị thành công một chiến lược cạnh tranh chung đòi hỏi các nhà quản trị chiến lược chú ý hai vấn đề chính. Trước hết, họ cần phải bảo đảm rằng các quyết định về sản phẩm, thị trường, các khả năng khác biệt hóa mà họ tạo.
ra phải định hướng về một chiến lược cạnh tranh cụ thê. Thứ hai, họ cần phải theo dõi môi trường do vậy họ có thể gắn các nguồn lực lợi thế cạnh tranh của mình với những thay đồi về cơ hội cũng như đe dọa. Chiến lược marketing 1. Khái niệm Marketing Thuật ngữ Marketing xuất hiện ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ (1905) nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929- 1932) và đặc bi là sau cuộc chiến tranh thể gi lần thứ II (1941-1945) nó mới có những bước nhảy vọt, phát triển mạnh mẽ về cả lượng và chất để thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học phổ biến như ngày nay.
Marketing được truyền bá sang Nhật và Tây Âu vào những năm 50 và 60, vào các nước Đông Âu những năm 60 và 70, vào Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Trong giới lý luận hiện nay mặc dù đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về marketing nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất sử dụng một định nghĩa chính thống. Ngày nay, định nghĩa của Philip Kotler được xem là hoàn chỉnh và đang được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.