chương 1 và chương 2, trong chương này, tác giả đưa ra những ý kiến nhận xét về hệ thống KTNB trong TCT Viễn thông quân đội Viettel. Qua những ý kiến đó, tác giả cũng xin đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác KTNB tại TCT Viễn thông quân đội Viettel. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về kiểm toán nội bộ (KTNB) 1.
Bối cảnh ra đời và sự phát triển của kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ ra đời nhằm thoả mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức phi lợi nhuận, tr ước hết trong các đơn vị, các tổ chức thuộc thị trường chứng khoán, ngân hàng và ở các công ty đa quốc gia. Các công trình nghiên cứu cho rằng, trước tiên KTNB ra đời là do các nhà quản lý trong các Công ty cổ phần nhận thấy rằng việc kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm do kiểm toán viên độc lập thực hiện chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho quá trình kiểm soát và quản lý cũng như ngăn chặn kịp thời những rủi ro, gian lận có thể phát sinh. Sau đó Uỷ ban giao dịch chứng khoán các nước đòi hỏi các nhà quản lý ở Công ty cổ phần có niêm yết giá ở thị trường chứng khoán phải có trách nhiệm cao hơn về độ tin cậy báo cáo tài chính công bố, nên chính bản thân các nhà quản lý ở các Công ty này đã mở rộng và nâng cao vai trò, trách nhiệm của KTNB. Từ đó, công việc KTNB không chỉ đơn thuần là những vấn đề về tài chính và kế toán mà bao gồm cả việc phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm tra các thông tin giữa kỳ và các thông tin khác mà chưa được xem xét bởi các kiểm toán viên độc lập khi thực hiện kiểm toán hàng năm.
Vai trò KTNB lúc này được mở rộng hơn nhằm hoàn thiện các chính sách và thủ tục kiểm toán đối với toàn bộ hoạt động của đơn vị. Trong thực tế của KTNB có những sự thay đổi lớn. Ngày nay ở các nước có nền kinh tế phát triển, KTNB đã được nhìn nhận như một nhiệm vụ không thể thiếu đối với mọi tổ chức trong mọi lĩnh vực. Hoạt động của KTNB đã được các đơn vị tự thân thừa nhận.
Sự thừa nhận này được chứng tỏ bởi vị trí cao hơn của KTNB trong tổ chức, ngân sách hoạt động lớn hơn, sự thừa nhận mục tiêu nghiên cứu rộng hơn.Trong hầu hết các công ty, kiểm toán viên nội bộ nói 9 chung đều được các bộ phận nhìn nhận như những cộng sự quan trọng trong hoạt động chung của toàn công ty. Tất cả những sự thừa nhận nói trên chứng tỏ KTNB đang ngày càng được mở rộng và trở nên độc lập hơn. Điều đó được lý giải do nhận thức của các nhà quản lý về KTNB là xuất phát từ tự thân đơn vị và đáp ứng nhu cầu quản lý cao của chính bản thân các nhà quản lý đơn vị. Tại Việt Nam, KTNB xuất hiện khá muộn so với kiểm toán độc lập (1991) và kiểm toán nhà nước (1994).
Giai đoạn trước năm 1996, KTNB chưa được hình thành cụ thể mà chỉ là những yếu tố đơn lẻ, chưa được hệ thống hóa và chỉ giới hạn trong phạm vi kiểm toán các báo cáo tài chính, chưa có bất kỳ văn bản pháp lý nào liên quan tới hệ thống KTNB. Giai đoạn từ năm 1996 đến nay, KTNB được hệ thống hóa lần đầu tiên trong Quyết định số 832/TC/QĐ/CĐKT ngày 28/12/1997 về việc ban hành quy chế KTNB. Hiện nay, KTNB được triển khai rộng rãi trong các tập đoàn, Tổng công ty. Một số đơn vị đã thực hiện công tác KTNB rất tốt, đáp ứng được yêu cầu quản trị, điển hình như tập đoàn Bảo Việt, tập đoàn Bưu chính Viễn thông, tuy nhiên vẫn còn có rất nhiều hạn chế trong KTNB tại Tổng công ty, hay các Tập đoàn kinh tế.
Khái niệm về kiểm toán nội bộ Là một trong những nhân tố cơ bản của HTKSNB trong DN, KTNB là công cụ dùng để quan sát đánh giá tình hình tài chính của DN. Theo định nghĩa của The IIA (Viện KTNB Hoa Kỳ): “Kiểm toán nội bộ là một chức năng độc lập, khách quan nhằm đảm bảo và tư vấn các hoạt động đã được thiết kế nhằm gia tăng giá trị và cải thiện các hoạt động trong một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp một tổ chức thực hiện được các mục tiêu thông qua việc mang lại phương pháp tiếp cận có hệ thống và quy tắc nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả của các quy trình quản trị rủi ro, kiểm soát và quản trị.” Theo VSA 610 “Kiểm toán nội bộ là một bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm 10 soát nội bộ của đơn vị”. Đây là định nghĩa được đưa ra trong chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam.
Định nghĩa này nhấn mạnh chức năng kiểm tra, đánh giá của KTNB. Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)” Kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một đơn vị kinh tế như là một loại dịch vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”. Các quan điểm trên về KTNB tuy có khác nhau ở một vài chi tiết nhưng tất cả quan điểm đều cho rằng KTNB là một bộ phận độc lập trong tổ chức, qua đó KTNB có nhiệm vụ hỗ trợ cho lãnh đạo tổ chức đánh giá các hoạt động trong đơn vị, đặc biệt kiểm tra và đánh giá chính xác được việc tuân thủ các chính sách kế toán của tổ chức. Mục đích của kiểm toán nội bộ KTNB xem xét sự tin cậy và tính trung thực của các thông tin tài chính trong tổ chức.
Để thực hiện được mục đích này, việc kiểm tra của KTNB có thể bao gồm việc xem xét các phương pháp đo lường, phân loại, lập báo cáo, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các khoản mục, số dư tài khoản và kiểm soát các thông tin kinh tế tài chính. Xem xét hệ thống tài chính doanh nghiệp có được thiết lập phù hợp với các chính sách, quy định của đơn vị cũng như của Nhà nước. Xác định xem trong thực tế các quy chế tài chính doanh nghiệp có được tuân thủ không. KTNB có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán tài chính nhằm phục vụ cho công tác kiểm soát của đơn vị.
KTNB xem xét phương thức bảo vệ tài sản và kiểm tra sự tồn tại của các tài sản. KTNB mục đích kiểm tra, rà soát, đánh giá mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, KSNB. Chức năng của kiểm toán nội bộ Các quan điểm trước đây cho rằng KTNB chịu trách nhiệm trong việc kiểm toán báo cáo tài chính và tập trung vào công tác kiểm tra kế toán và thông tin tài chính của tổ chức. Tuy nhiên quan điểm của KTNB hiện đại đã được phát triển thêm, không còn giới hạn ở công tác kiểm tra BCTC mà thêm vào đó là kiểm toán tính hiệu quả, tính tuân thủ của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tư vấn cho nhà quản lý nhằm hoàn thiện HTKSNB.
Có thể thấy KTNB đóng vai trò là người bảo vệ giá trị cho doanh nghiệp. KTNB là một quan sát viên độc lập, nhằm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định của pháp luật, đạo đức kinh doanh và quy chế hoạt động của công ty. Kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm phát hiện ra những sai sót trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giữ vai trò là người tư vấn và định hướng cho ban giám đốc và hội đồng quản trị về kiểm soát rủi ro tài chính. Chức năng tiếp theo của KTNB là giúp chủ doanh nghiệp cải tiến những điểm yếu từ hệ thống quản lý và quản trị doanh nghiệp.
Bằng cách phân tích, kiểm tra quy trình hoạt động của các phòng ban trong bộ máy kinh doanh, KTNB sẽ đưa ra những lời tư vấn giúp công ty hoạt động năng suất và hiệu quả hơn. Thực tế, các doanh nghiệp có bộ phận KTNB hoạt động một cách hiệu quả thì khả năng gian lận sẽ xảy ra thấp, ngược lại hiệu quả kinh doanh sẽ tăng cao. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ Theo điều 6 Quyết định 832 ngày 28/10/1997 của Bộ tài chính, KTNB có 3 nhiệm vụ: Kiểm tra, xác nhận và đánh giá: Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt; Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc doanh nghiệp; Phát 12 hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống kiểm soát nội bộ - Công cụ giám sát của kiểm toán nội bộ 1.
Định nghĩa kiểm soát nội bộ Theo quan niệm của IFAC thì “Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) là một hệ thống những chính sách và thủ tục nhằm mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm hiệu quả của các hoạt động”. Theo Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ AICPA “KSNB gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những phương pháp, biện pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tải sản của doanh nghiệp kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy của các thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khuyến khích bám sát những chủ trương quản lý đã đề ra”.