Chương 1: Tổng quan tài liệu ~_ Lược sử nghiên cứu cá ~ _ Điều kiện tự nhiên - kinh tế vùng nghiên cứu Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu -_ Đối tượng nghiên cứu - Théi gian nghiên cứu -_ Địa điểm nghiên cứu - _ Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và bàn luận ~ _ Thành phần loài cá ở sông Bản Thạch, tỉnh Phú Yên. - _ Đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên. -_ Đặc trưng đa dạng về thành phần loài cá và quan hệ về thành phan loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên với các khu hệ cá khác. ~ _ Tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở sông Bàn Thạch Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.
LUQC SU NGHIEN CUU CA 1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam Việt Nam với vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp thềm lục địa dài và rộng cùng hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá khá lớn mang tính đặc trưng của các hệ sinh thái nhiệt đới. Do vậy, khu hệ cá rất phong phú và được chú trọng nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về cá do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện.
Việc nghiên cứu trải qua nhiều thời kỳ, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thời kỳ trước năm 1945 Thời kỳ này chủ yếu các công trình nghiên cứu đều do các tác giả người nước ngoài như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc. Phần lớn mẫu vật được lưu trữ ở bảo tàng tự nhiên Paris, Pháp. Có lẽ công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta là của H.
Sauvage (1881) trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông, Dương”, gồm 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta. Những năm tiếp theo có những công bó về thành phần loài ở các thuỷ vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả: H. E Sauvage (1884) “Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ”, ông đã thu thập và định loại được 10 loài cá ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; E. Vaillant đã thu thập 6 loài và mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài mới ở sông Kỳ Cùng (1904); P.
Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937) “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam”, trong đó tác giả đã thông báo bắt được cá Chình Nhật (Anguilla japoniea) ở sông Hồng; Năm 1929, G. Tirant đã mô tả 70 loài cá nước ngọt sông Hương, trong đó có Š loài mới mà ông đã thu thập mẫu từ năm 1883. Lemasson (1937) đã công bố công trình “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” gồm 98 loài, 17 họ. Đây là công trình nghiên cứu cá đầy đủ nhất về cá của thời kỳ này.
Có thể nói giai đoạn này việc nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta chỉ mới dừng ở mô tả, thống kê thành phân loài, chưa nghiên cứu về nguồn lợi. Thời kỳ từ 1945- 1975 Từ năm 1945, phần lớn các cuộc khảo sát, các công trình nghiên cứu đều được các tác giả Việt Nam thực hiện, tuy nhiên cũng có một thời gian dài từ 1945-1954 bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, dưới sự phối hợp cộng tác của Trạm nghiên cứu thủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), khoa Sinh học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học Thủy sản, công tác nghiên cứu được tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng, sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, rudng,. Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá thời kỳ này ở miền Bắc có: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) nghiên cứu sơ bộ khu hệ cá sông Bôi gồm 44 loài ; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959) đã công bố dẫn liệu sơ bộ Ngư giới sông Ngòi Thia gồm 54 loài cá; Hoàng Đức Đạt (1964) với công trình: Sinh thái học một số loài cá sông Lô; Mai Đình Yên (1966) điều tra khu hệ cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nước ngọt; Đoàn Lệ Hoa và Phạm Văn Doãn (1971) đã sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã với 114 loài,.
Ở miền Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về cá nước ngọt do các cán bộ khoa học người Việt Nam phối hợp với người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi (1964), Fourmanvir (1965), Nguyễn Viết Trương và Trần Thi Tay Hoa (1972). Kuronuma (1961) đã tông hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài; Nguyễn Viết Trương va Tran Thi Tay Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài. Thời kỳ sau 1975 đến nay Kế thừa những thành quả của giai đoạn trước, ở giai đoạn này, công tác nghiên cứu cá được tiến hành trong phạm vi cả nước. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm chủ yếu các kết quả nghiên cứu về khu hệ, đặc trưng phân bố các loài cá và đặc điểm địa động học cá nước ngọt Việt Nam.
Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu trong giai đoạn đầu sau năm 1975 gồm: Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần các loài cá sông Thu Bồn gồm 58 loài, Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài [69]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thanh phan loài cá sông: „ Hậu, Vòm Cỏ, Sài Gòn và Đồng Nai (255 loài) [70]. Hai công trình mang tính tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các. thời kỳ trước được công bố là: "Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam" của Mai Đình Yên (1978) đã thống kê danh mục, mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại, đặt 17 điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở Miền Bắc nước ta [66]. và "Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ" do Mai Đình Yên chủ biên với các cộng sự Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) mô tả, lập khóa định loại 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [70].
Đây là hai công trình tông hop day đủ nhất về hai khu hệ cá nước ngọt miền Bắc và miền Nam Viét Nam. Đến nay, hai cuốn sách này vẫn còn giá trị trong công tác nghiên cứu phân loại cá. Ở vùng nước ngọt miền Trung và Tây Nguyên, đã có một số công bố về cá của: Dương Tuấn (1979): Đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá đầm Châu Trúc (39 loài); Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương (58 loài); Võ Văn Phú (1993): Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở phá Tam Giang thuộc hệ đầm phá Thừa Thiên Huế (138 loài) [28]; Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Duc (1994): Thành phần loài ở một số sông suối của Tây Nguyên (82 loài); Võ Văn Phú (1995): Thành phần cá loài cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài) [29]; Võ Văn Phú (1998): Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở Vườn Quốc gia Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế (35 loài) [31]; Nguyễn Thị Thu Hè (1999): Thành phần loài cá ở sông suối Tây Nguyên (138 loài) [19]; Nguyễn Thị Thu Hè (2003): Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở một số hồ Tây Nguyên, Việt Nam (76 loài); Vũ Trung Tạng (1999): Thành phần loài cá Đầm Trà Ò (67 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000): Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị (83 loài); Võ Văn Phú, Trần Hồng Đinh (2000): Đặc điểm khu hệ cá đầm Lăng Cô (151 loài); Võ Văn Phú (2001): Thành phần loài cá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế sau trận lũ lịch sử 1999 (171 loài); Cấu trúc thành phân loài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình của Võ Van Pha, Truong Thi Thu Ha va Hoàng Thị Thúy Liễu (2003) gồm 169 loài; Đa dạng về thành phần loài cá ở đầm Ô Loan của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) gồm 108 loài [34]; Da dạng sinh học về thành phần loài cá hồ thủy điện Yaly (Gia Lai - Kon Tum) của Võ Văn Phú và Nguyễn Thị Thu Hà (2003) với 96 loài; Cấu trúc thành phân loài khu hệ cá một số cửa sông ven biển miền Trung của Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh và Hồ Thị Hồng (2004) gồm 200 loài; Thành phân loài cá ở hồ Phú Ninh tỉnh Quảng Nam của Võ Văn Phú và Vũ Thị Phương Anh (2004) với 71 loài [1]. Tir nam 2005 đến nay, các công trình nghiên cứu về cá được quan tim và chú trọng góp phần vào công tác nghiên cứu, phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của đất nước.
'Về phân loại học cá nước ngọt Việt Nam còn có tác giả Nguyễn Văn Hảo với công bố "Cá nước ngọt Việt Nam" gồm ba tập, tập 1 (2001), tap 2, 3 (2005). Trong đó tác giả đã mô tả chỉ iết 1027 loài và phân loài, 427 giống, 97 họ, 22 bộ [17], [18]. Đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất ở đầu thế kỷ XXI về cá nước ngọt Việt Nam. Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam của Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh và Nguyễn Ngọc Hoàng Tân (2005) với 83 loài [37]; Da dang sinh hoc về thành phần loài cá hệ sinh thái sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú và Phan Đỗ Quốc Hùng (2005) gồm 121 loài [38].
Năm 2006, Võ Văn Phú và cộng sự công bố thành phần loài cá ở khu bảo tồn thiên nhiên Đắckrông, Quảng Trị với 100 loài [44]. Thành phần loài khu hệ cá sông Hàn, thành phố Đà Nẵng (2006) của Võ Văn Phú và Hồ Thị Minh Tâm với 108 loài [39]; Nguồn lợi cá Chình (Anguilla) ở các tỉnh phía Bắc Trường Sơn, Việt Nam (2007) của Hoàng Đức Đạt và Võ Văn Phú; Tình hình khai thác cá Dầy (Cÿprinus cenrralus Nguyen & Mai, 1994) và một số giải pháp phát triển bền vững loài này ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế (2007) của Nguyễn Hữu Quyết. Đa dạng thành phân loài cá hệ sinh thái sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế (2007) của Hoàng Thị Long Viên, Võ Văn Phú với 145 loài. Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị (2007) của Võ Văn Phú, Nguyễn Vinh Hiển với 100 loài [20].