CHƯƠNG I TONG QUAN TAI LIEU 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU LINH TRUONG Ở THẺ GIỚI Sự quan tâm khoa học đối với hành vi tự nhiên của linh trưởng bắt đầu tại cuộc. họp thường niên năm 1860 của hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học Anh [41]. Tới năm 1938, Carpenter đã xây dựng trung tâm Cayo Santiago trên hòn đảo ngoài khơi Puerto Rico [40].
T: fay diễn ra các nghiên cứu về quần thể linh trưởng trong môi trường bán tự nhiên. Tuy nhiên, do chiến tranh thế giới thứ II, nghiên cứu thực địa về linh trưởng đã bị đình trệ giữa những năm 1930 và đầu những năm 1950. Năm 1960, Southwick và Altman tiến hành nhiều nghiên cứu thực địa về động vật linh trưởng [40]. Cả hai đều trở thành những người đóng góp lớn cho việc xây dựng các phương pháp điều tra thực đỉa.
Những năm 1970 và 1980, đã có nhiều thay đổi quan trọng. Nhà nghiên cứu Hall kéu goi sử dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu linh trưởng [41] Hai! và hai đồng nghiệp của ông trong Khoa Tam ly hoc tai Dai hoc Bristol là những người đầu tiên sử dụng phương pháp quét mẫu (Scan Sampling) trong nghiên cứu sinh thái học linh trưởng. Năm 1974, Altmann xuất bản một bài báo mô tả các phương pháp thu thập số liệu định lượng về động vật linh trưởng [1§]. Hiện nay công trình của Altmann là một trong những tài liệu được nhiều nhà nghiên cứu linh trưởng sử dụng.
Kể từ đây, lĩnh vực nghiên cứu động vật linh trưởng đã phát triển. Số lượng nhà linh trưởng học có trình độ tiến sĩ tăng dần qua các năm. Năm 1955-1964 là 8, tới năm 1965 đến 1974 là 46. năm 1975 đến 1984 là 83, năm 1985 đến 1994 tăng lên 89.
Và tới năm 1995 đến năm 2004, đã có 151 tiến sĩ trong lĩnh vực nghiên cứu thực địa về linh trưởng. Đặc biệt là sự quan tâm đến lĩnh vực này đang tăng dẫn ở nhiều quốc gia nhiệt đới, nơi có các loài linh trưởng quý hiểm [41] 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU LINH TRƯỞNG Ở VIỆT NAM Nha linh trưởng học Hoàng Minh Đức đã chia sự phát triển của nghiên cứu linh trưởng Việt Nam qua ba giai đoạn: (1) giai đoạn ban đầu, trước năm 1954: (2) 1954 - 1986; và (3) 1986 đến nay. Trong giai đoạn đầu (trước năm 1954), nghiên cứu về các loài linh trưởng ở 'Việt Nam hầu hết là các mô tả phân loại dựa trên hình thái học của các nhà khoa học phương Tây dựa trên các mẫu sưu tập thời thuộc địa ở các cơ quan phương Tây.
Một số công trình nổi bật trong thời kỳ này thuộc về Auguste Pavie (1904, danh sách 7 loài linh trưởng ở Việt Nam), Rene Bourret (1942, danh sách 9 loài linh trưởng), và Winfred Hudson Osgood (1932, danh sách 17 loài linh trưởng ở Việt Nam) [48] Giai đoạn 1954 - 1986 đánh dấu thế hệ đầu tiên của Các nhà linh trưởng học 'Việt Nam. Hầu hết công việc tiếp tục tập trung về các mô tả phân loại hình thái học của loài mới. Người có đóng góp quan trọng trong giai đoạn này chính là cố giáo sư Dao Văn Tiến. Ông đã sáng lập nghiên cứu linh trưởng và động vật có vú tại Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội, Đại Học Quốc Gia Việt Nam.
Nhiều động vật linh trưởng và động vật có vú đã được thu thập như là mẫu vật trong suốt thời gian này đề xây dựng bộ sưu tập ở Bảo tàng động vật hoang dã tại Trường đại học khoa học Hà Nội. Không có nghiên cứu nảo trong giai đoạn này đề cập tới bảo tồn các loài linh trưởng, tắt cả được xem là tài nguyên đề phát triển kinh tế. Trong hai giai đoạn đầu, các loài linh trưởng không được tách ra như là một nhóm đối tượng nghiên cứu chính. Thay vào đó, các thông tin động vật linh trưởng được thu về trong các cuộc điều tra tổng thể đa dạng sinh học của động vật có vú.
Vì vậy, có rất ít các nghiên cứu chuyên ngành về động vật linh trưởng ở Việt Nam trong thời gian nay [48] Giai đoạn tiếp theo được đánh dấu bởi chính sách mở cửa năm 1986 và việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cắm vận trong những năm 1990. Nhiều nhà khoa học phương Tây. và các tổ chức phi chính phủ đã có thể đến Việt Nam để tiến hành khảo sát thực địa về động vật hoang dã và linh trưởng. Từ đó giới thiệu các ý tưởng bảo tồn, mở ra không gian hợp tác mới cho các nhà sinh học Việt Nam.
Nhiều khảo sát thực địa về hiện trạng, sự phân bố và các thành phần loài linh trưởng đã được tiền hành trong thời gian này. Khi các cơ chế và hợp tác mới được thành lập, chuyên gia Việt Nam về nghiên cứu linh trưởng đã tăng nhanh ở Đại học Khoa học Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Có thể kể ra những cái tên nổi bật như: Hà Đình Đức, Lê Vũ Khôi, Vũ Ngọc Thành, Phạm Trọng Ảnh, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Xuân Đặng. Nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu vẻ linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện, trong đó các nghiên cứu quan trọng dai han được tiến hành bao gồm: nghiên cứu của Hoàng Minh Đức trên loài Cha vá chân den (Pygathrix nigripes), Déng Thanh Hai trên loài Vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Ha Thăng Long trên loài Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Nguyén Vĩnh Thanh trên loài Vọoc quần đùi trắng (7rachypithecus delacouri); Lê Khắc Quyết trên loài Vọoc mũi héch (Rhinopithecus avunculus).
Phần lớn các nhà nghiên cứu trong giai đoạn này đều được đảo tạo chuyên ngành về nhân chủng học hoặc nhân học sinh học ở nước ngoài tại châu Âu, Úc, Hoa Kỳ hay thông qua các khóa dao tạo từ các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam [48] Trong giai đoạn này Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp được thành lập vào năm 1993. Là nơi cứu hộ các loài linh trưởng quý hiếm phục vụ cho mục đích bảo tồn đồng thời cung cắp cơ hội cho nghiên cứu linh trưởng đối với sinh viên và những nhà khoa học. Trung tâm cung cấp một số lượng động vật linh trưởng đặc hữu có nguy. cơ tuyệt chủng cao cho các nghiên cứu.
Ngoài ra tại đây còn tiến hành các chương trình liên kết với các trường đại học và các tổ chức trong và ngoài nước. Cả sinh viên Việt Nam và sinh viên nước ngoài va các nhà khoa học đều được hỗ trợ đề thực hiện các nghiên cứu của mình. Hơn 130 bài báo khoa học đã được xuất bản và đóng góp vào kiến thức về các loài linh trưởng ở Việt Nam, bao gồm thông tin về sinh học, hệ thống phân loại, tình trạng. Những nghiên cứu nỗi bật bao gồm việc phát hiện ra hai loài linh trưởng mới: Chà vá chân chân xám (Pygathrix cinerea), Von den ma ving Bắc (Văn Ngọc Thịnh, 2010) [44].
Hiện tại, sự phát triển của ngành nghiên cứu linh trưởng đang gặp nhiều khó khăn. Do Việt Nam hiện không có chương trình đảo tạo chính quy về nhân chủng học hoặc nhân học sinh học (Hiện nay chỉ có mô hình các khóa học về bảo tồn linh trưởng tại bậc đại học hoặc sau đại học chứ không phải một chương trình đào tạo đầy đủ), Những khó khăn này vừa là một thách thức lớn vừa là động lực để các nhà nghiên cứu trẻ ở Việt Nam tiến hành và phát triển các nghiên cứu về linh trưởng. ĐA DẠNG THÚ LINH TRUONG Ở VIỆT NAM Việt Nam có 3 trong số 5 họ linh trưởng của châu Á bao gồm: vượn (Hylobatidae), khi và voọc (Cercopithecidae) và cu li (Lorisidae). Vượn den má trắng Siki (Nomascus Siki), Vugn den Tay Bac (Nomascus concolor) va Vugn den Déng Bac (Nomascus nasutus).
Họ Khi - Voọc (Cercopithecidae) có hai phân họ là phân họ Khi (Cercopitheeinae) và phân họ Voọc (Colobinae) với 4 giống: Afacaca, Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus. Họ này có số loài và phân loài phong phú nhất, với 18 loài và phân loài. Trong đó phân họ Khi (Cercopithecinae) chỉ có | giống Macaca gồm 06 loài và phân loài: Khi mat do (Macaca arctoides), Khi mốc (Macaca assamensis), Khi đuôi đài (Macaca fascicularis), Khi đuôi lon Bac (Macaca leonina), Khi ving (Macaca mulatta), phan loai Khi đuôi dài Cén Dao (Mf. condorensis) theo Kloss.
Phin ho Vooc (Colobinae) c6 3 giéng véi 12 loài. Trachypithecus c6 8 loai: Vooe Cat Ba (Trachypithecus poliocephalus), Voọc bạc Trung Bộ (Trachypithecus margarita), Voge bạc Đông dương (Trachypithecus germaini), Vooc xám (Trachypithecus phayrei crepusculus), Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi), Vooc Ha Tinh (Trachypithecus laotum hatinhensis), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) va Voọc đen tuyền (Trachypithecus ebenus). Giống Pygathrix có 3 loai: Cha va chin nau (Pygathrix nemaeus), Cha va chin xm (Pygathrix cinerea), Cha va chan den (Pygathrix nigripes). Giéng Rhinopithecus chi có một loài Vooe mũi héch (Rhinopithecus avunculus) [10].
Lịch sử sinh thái lâu dài này có thể góp phần khiến cho các loài động vật linh trưởng ở Việt Nam có tính đặc hữu. Trong các nhóm động vật có xương sống, linh trưởng của Việt Nam có số lượng loài đặc hữu rất cao. Sáu, hay xắp xi một phần tư số. lượng taxon của Việt Nam, chỉ có phân bố ở đây: Khi đuôi dài Côn Dao (Mf.
condorensis), voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), vooe Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus), chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), voge miii héch (Rhinopithecus avunculus) va vugn den Tay Bac (Nomascus concolor) Chín loài khác đặc hữu ở Đông Dương và một vùng nhé 6 Nam Trung Quéc [8] 1. DAC DIEM SINH THÁI SINH HỌC CỦA KHÍ VÀNG 1. Hệ thống phân loại Phân loại của khi vàng được thể hiện trong bảng 1.1, hình dạng khi vàng trong hình 1.1: Phân loại khỉ vàng Loai (species) Khi Vang (Macaca mulatta) 10 sinh dục) của con cái trở nên đỏ và sưng lên. Tuy nhiên khó có thể khẳng định được giới tính của khi vàng nếu chỉ dựa vào một đặc điểm riêng lẽ, vì đôi khi đặc điểm đó.
chưa thể hiện rõ ràng hoặc góc nhìn bị khuất, nhất là ở những cá thể chưa trưởng thành Dac điểm đễ dàng quan sát nhất để phân biệt được sự sai khác giới tính là ngực của khi cái trưởng thành thường xệ xuống, có hai núm vú lớn, dài, nằm ở khoảng cách gần nhau và dễ quan sát khi nhìn thẳng vào ngực của chúng, ở con đực tuyến vú không phát triển. Ngoài ra, khi cái thường mang theo con. Đối với con đực thường lộ bộ phận sinh dục có bìu lớn. Khi vàng đạt độ tuổi trưởng thành ở 5-7 tuôi; con đực trưởng.
thành muộn hơn con cái. Tuổi thọ trung bình là 25-27 năm.