Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu khu vực với 26 loài và phân loài linh trưởng thuộc 3 họ chính, nằm trong nhóm 16 quốc gia có mức độ phong phú sinh học cao nhất thế giới. Tại Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam với tổng diện tích tự nhiên 1549,15 ha, trong đó có 534,9 ha rừng đặc dụng tự nhiên, quần thể khỉ vàng (Macaca mulatta) giữ vai trò then chốt trong cấu trúc mạng lưới sinh thái rừng hải đảo. Tuy nhiên, sự bùng nổ của ngành du lịch sinh thái với hơn 400.864 lượt khách ghé thăm vào năm 2015 (tăng gấp 5 lần so với năm 2011) đã tạo ra sức ép nhân vi sinh to lớn, làm thay đổi sâu sắc cảnh quan và nguồn tài nguyên tự nhiên.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự biến đổi tập tính dinh dưỡng và áp lực tương tác giữa khỉ vàng với hoạt động của con người trong bối cảnh phân mảnh sinh cảnh. Mục tiêu của đề tài nhằm xác định thành phần thức ăn, tỷ lệ tiêu thụ các bộ phận thực vật, định lượng quỹ thời gian hoạt động kiếm ăn ban ngày và đánh giá mức độ xung đột sinh thái giữa khỉ vàng và cư dân địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại hai khu vực Bãi Làng và Bãi Chồng thuộc đảo Hòn Lao, thực hiện trong khung thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 9 năm 2017.
Ý nghĩa khoa học của công trình thể hiện ở việc thu thập và phân tích hệ thống 1126 mẫu quan sát hành vi thực địa, thiết lập dẫn liệu sinh học chuẩn xác phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen động vật nguy cấp thuộc Nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và định hình chính sách quản lý du lịch sinh thái bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tối ưu hóa kiếm ăn (Optimal Foraging Theory) và lý thuyết sinh thái học hành vi linh trưởng (Primate Behavioral Ecology). Bên cạnh đó, mô hình tương tác người và động vật hoang dã (Human-Wildlife Interface Model) được tích hợp để giải thích sự thích nghi hành vi trước sự xuất hiện của nguồn thức ăn nhân tạo. Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm:
- Sinh cảnh sống: Không gian sinh thái phức hợp bao gồm rừng tự nhiên và đất canh tác nông nghiệp, nơi cung cấp nguồn sống và nơi trú ẩn cho loài.
- Quỹ thời gian hoạt động: Tỷ lệ phần trăm thời gian ban ngày mà cá thể phân bổ cho các hành vi sinh tồn như ăn, di chuyển, nghỉ ngơi và tương tác xã hội.
- Phổ thức ăn: Danh mục toàn diện các loài thực vật, động vật và thực phẩm nhân tạo được sinh vật tiêu thụ trong một chu kỳ sinh thái nhất định.
- Tính mềm dẻo tập tính: Khả năng điều chỉnh chiến lược kiếm ăn nhằm tối ưu hóa năng lượng thu nhận khi môi trường sống bị xáo trộn.
Theo các khảo sát trước đây, mật độ phân bố của loài khỉ vàng có sự chênh lệch lớn giữa sinh cảnh rừng tự nhiên (khoảng 37,2 cá thể/km2) và khu vực ven khu dân cư (khoảng 201,1 cá thể/km2). Đồng thời, các công trình của Phạm Nhật năm 1993 đã chỉ ra phổ dinh dưỡng của khỉ vàng tại Việt Nam có thể lên đến 171 loài thực vật thuộc 46 họ khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực địa đa tầng, kết hợp quan sát tập tính và điều tra sinh cảnh thực vật. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 1126 mẫu quét hành vi tức thời và 460 mẫu quan sát hành vi ăn cụ thể trên 2 đàn khỉ vàng tại Bãi Làng và Bãi Chồng, cùng 4 ô tiêu chuẩn điều tra thực vật học.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo không gian và lấy mẫu quét tức thời (Scan Sampling theo Altmann 1974) được áp dụng với chu kỳ cố định 3 phút một lần trong suốt khung giờ hoạt động từ 5:00 sáng đến 18:00 chiều trong 17 ngày thực địa. Đối với thảm thực vật, 4 ô tiêu chuẩn với các kích thước lồng ghép 50x50m, 10x10m và 2x2m được thiết lập theo quy chuẩn phân loại của Thái Văn Trừng và Phạm Hoàng Hộ nhằm xác định mức độ phong phú của 50 loài thực vật thuộc 26 họ.
Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Phương pháp thống kê mô tả được lựa chọn để tính toán tần suất, giá trị trung bình và tỷ lệ phần trăm của từng nhóm hành vi. Kiểm định phi tham số Chi-Square với mức ý nghĩa thống kê alpha bằng 0,05 (độ tin cậy 95%) được sử dụng để kiểm tra mối liên hệ tương quan có ý nghĩa giữa biến không gian sinh cảnh, thời gian trong ngày với loại thức ăn tiêu thụ. Timeline nghiên cứu chia làm 3 giai đoạn: tháng 4 đến tháng 5 năm 2017 điều tra tiền trạm; tháng 6 đến tháng 8 năm 2017 thu mẫu tập tính; tháng 8 đến tháng 9 năm 2017 lập ô tiêu chuẩn và định danh thực vật.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Tổng hợp từ 460 mẫu quan sát hành vi ăn cho thấy cấu trúc khẩu phần của khỉ vàng tại Cù Lao Chàm phân hóa thành 4 nguồn thức ăn chính:
- Thực vật mọc tự nhiên chiếm tỷ trọng lớn nhất với 54,0% (248 lần quan sát).
- Thực vật trồng tại các rẫy nông nghiệp chiếm 24,0% (111 lần quan sát).
- Nguồn thực phẩm nhân tạo từ con người chiếm tới 20,7% (95 lần quan sát).
- Nguồn thức ăn động vật chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 1,3% (6 lần quan sát, gồm 5 mẫu chuồn chuồn họ Libellulidae và 1 mẫu bướm họ Papilionoidea).
Tổng tỷ lệ thức ăn có nguồn gốc thực vật chiếm 78,0% (359 lần quan sát). Trong số 24 loài thực vật thuộc 15 họ được ghi nhận, khỉ vàng tiêu thụ nhiều nhất các loài thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), điển hình là cây Mít (Artocarpus heterophyllus) với 92 lần quan sát và Sung xoài (Ficus depressa) với 38 lần quan sát. Đề tài đã phát hiện và bổ sung 13 loài thực vật mới vào danh mục thức ăn của khỉ vàng tại Việt Nam so với các công bố trước đó của Phạm Nhật năm 1993, tiêu biểu như Ngô đồng (Firmiana colorata), Bứa lửa (Garcinia fusca), Xoài rừng (Mangifera minutifolia) và Mận roi (Syzygium samarangense).
Về bộ phận thực vật, khỉ vàng ưu tiên ăn phiến lá non chiếm 46,80% (168 lần quan sát), thịt quả chiếm 18,66% (67 lần quan sát), nguyên quả chiếm 19,22% (69 lần quan sát), hoa chiếm 10,58% (38 lần quan sát), cuống lá chiếm 1,39%, thân chiếm 1,39% và hạt chỉ chiếm 1,11%.
Về ngân sách thời gian ban ngày từ 1126 mẫu scan, hoạt động ăn chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,85% (460 mẫu), tiếp theo là di chuyển chiếm 33,66% (379 mẫu), ngồi nghỉ và quan sát chiếm 17,58% (198 mẫu). Các hành vi xã hội chiếm tỷ lệ khiêm tốn gồm chải lông (2,84%), chơi đùa (2,40%), uống nước (2,04%) và gây hấn (0,62%).
Thảo luận kết quả
Khẩu phần ăn của khỉ vàng tại Cù Lao Chàm phản ánh tính thích nghi dinh dưỡng linh hoạt. Việc tiêu thụ áp đảo các loài thuộc chi Ficus (58 lần quan sát) và chi Artocarpus (122 lần quan sát) xuất phát từ hàm lượng carbohydrate dễ hòa tan, nước và nồng độ canxi vượt trội trong trái và lá non họ Dâu tằm, hỗ trợ quá trình lên men tiêu hóa qua khoang miệng và túi má.
Sự hiện diện đáng kể của thực phẩm con người (20,7%, trong đó cơm chiếm 29,5% các loại thực phẩm nhân tạo) phản ánh rõ nét tác động từ hơn 400.000 lượt khách du lịch hàng năm. Khỉ vàng đã chủ động xâm nhập rẫy nông nghiệp của người dân tại Bãi Làng và Bãi Chồng để ăn trộm trái cây chín và nhận thức ăn trực tiếp từ du khách, từ đó làm gia tăng hành vi hung dữ, nhe răng đe dọa.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự tương đồng nổi bật với các quan sát của Neville năm 1968 tại Uttar Pradesh (Ấn Độ) trên các đàn khỉ sống ven đô thị du lịch, nơi hành vi ăn và di chuyển luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 70% tổng thời gian). Kết quả này cũng củng cố nhận định của Sengupta năm 2016 tại Khu bảo tồn Buxa về chiến lược ưu tiên ăn trái cây và lá non của giống Macaca.
Về mặt trực quan hóa dữ liệu học thuật, các kết quả trên được trình bày tối ưu thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ 4 nhóm nguồn thức ăn, bảng phân tích ma trận 24 loài thực vật theo 2 sinh cảnh, và biểu đồ cột biểu diễn biến động thời gian kiếm ăn theo từng khung giờ từ 5:00 sáng đến 18:00 chiều để làm rõ đỉnh kiếm ăn vào đầu giờ sáng và cuối buổi chiều.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả thực nghiệm, 4 giải pháp đồng bộ được đề xuất nhằm bảo tồn quần thể khỉ vàng và giải quyết xung đột sinh thái:
- Phục hồi và làm giàu sinh cảnh tự nhiên: Tiến hành trồng bổ sung ít nhất 5 loài cây thức ăn bản địa ưa thích (Sung xoài, Bứa lửa, Mít nài, Trâm bồ đào, Xoài rừng) tại khu vực sườn Tây Hòn Lao với mật độ mục tiêu khoảng 150 cây/ha. Giải pháp hướng tới việc giảm 40% tần suất khỉ di chuyển vào khu dân cư và rẫy sản xuất. Timeline thực hiện: 2019 - 2021. Chủ thể chủ trì: Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm phối hợp Hạt Kiểm lâm Hội An.
- Ban hành và thực thi quy chế kiểm soát du lịch sinh thái: Thiết lập biển cảnh báo và áp dụng mức phạt nghiêm khắc đối với 100% hành vi cho khỉ ăn tại các điểm du lịch Bãi Làng, Bãi Chồng và các nhà hàng ven biển. Target metric: Cắt giảm tỷ trọng thực phẩm nhân tạo trong khẩu phần khỉ từ 20,7% xuống dưới 5,0% trong vòng 12 đến 18 tháng. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp và các đơn vị lữ hành du lịch.
- Nâng cấp kỹ thuật bảo vệ mùa màng tại rẫy nông nghiệp: Thay thế triệt để các biện pháp thủ công kém hiệu quả như nuôi chó hoặc bọc bao tải bằng hệ thống lưới rào chuyên dụng và bọc quả bằng khung kim loại chịu lực tại 100% rẫy trồng mít và cây ăn trái. Timeline hoàn thành: trong vòng 6 tháng kể từ khi phê duyệt. Chủ thể thực hiện: Các hộ canh tác nông nghiệp với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Phòng Kinh tế thành phố Hội An.
- Xây dựng chương trình quan trắc sinh thái định kỳ: Thiết lập mạng lưới theo dõi biến động quần thể 2 đàn khỉ và sức tải môi trường trong 4 ô tiêu chuẩn với chu kỳ 6 tháng một lần. Target metric: Duy trì ổn định mật độ quần thể tự nhiên trên 35 cá thể/km2. Timeline triển khai: giai đoạn 2019 - 2025. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) phối hợp Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn mang lại giá trị ứng dụng và học thuật chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Điển hình là Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các nhà quản lý có thể khai thác bộ chỉ số định lượng về khẩu phần ăn và 4 giải pháp quản lý xung đột để xây dựng phương án bảo tồn bền vững 100% các loài linh trưởng thuộc Nhóm IIB.
- Các nhà nghiên cứu và học viên ngành Sinh thái học, Động vật học: Cung cấp quy trình chuẩn mực về phương pháp lấy mẫu quét tức thời (Scan Sampling) với 1126 lượt ghi nhận và danh mục 24 loài thực vật làm cơ sở đối sánh tiến hóa tập tính linh trưởng hải đảo.
- Các tổ chức quy hoạch và doanh nghiệp phát triển du lịch sinh thái: Giúp các đơn vị lữ hành nhận diện rõ rủi ro dịch bệnh và xung đột tập tính khi phục vụ hơn 400.000 lượt khách mỗi năm, từ đó chuẩn hóa quy tắc du lịch có trách nhiệm.
- Giảng viên và sinh viên các khối ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên môi trường: Sử dụng công trình như một nghiên cứu điển hình về kỹ thuật điều tra thực vật qua ô tiêu chuẩn và phương pháp phân tích số liệu sinh học bằng phần mềm SPSS 20.
Câu hỏi thường gặp
-
Nguồn thức ăn chính của khỉ vàng tại Cù Lao Chàm bao gồm những gì?
Thực vật là nguồn dinh dưỡng chủ đạo chiếm 78,0% khẩu phần ăn với 359 lần quan sát, trong đó lá non chiếm 46,80% và quả chiếm 38,72%. Khỉ vàng đặc biệt ưa chuộng các loài thuộc chi Mít (122 lần quan sát) và chi Sung (58 lần quan sát). Thực phẩm con người chiếm 20,7%, trong khi động vật chỉ chiếm 1,3%.
-
Khỉ vàng tại Cù Lao Chàm phân bổ thời gian hoạt động ban ngày ra sao?
Trong tổng số 1126 mẫu scan thu thập từ 5:00 sáng đến 18:00 chiều, khỉ vàng dành 40,85% thời gian cho hành vi ăn và 33,66% cho việc di chuyển. Thời gian nghỉ ngơi quan sát chiếm 17,58%, các hoạt động xã hội như chải lông, chơi đùa chiếm 5,24%, còn hành vi gây hấn chỉ chiếm 0,62%.
-
Hoạt động du lịch đã tác động như thế nào đến hành vi của khỉ vàng?
Sự gia tăng hơn 400.000 lượt khách mỗi năm đã khiến khỉ hình thành thói quen tiêu thụ thực phẩm nhân tạo, chiếm 20,7% khẩu phần (trong đó cơm chiếm 29,5%). Khỉ thường xuyên tiếp cận khu dân cư Bãi Làng, hình thành phản xạ xin ăn và biểu hiện các hành vi hung dữ đe dọa con người.
-
Đề tài đã phát hiện thêm những loài thực vật thức ăn mới nào?
Luận văn đã bổ sung 13 loài thực vật mới vào danh mục thức ăn của khỉ vàng tại Việt Nam so với nghiên cứu của Phạm Nhật năm 1993. Các loài tiêu biểu gồm Sung xoài (38 lần ăn), Sung sóng (9 lần), Mít nài (30 lần), Mận roi (10 lần), Ngô đồng (21 lần), Bứa lửa (18 lần) và Xoài rừng (17 lần).
-
Phương pháp khoa học nào được sử dụng để thu thập dữ liệu hành vi?
Tác giả áp dụng phương pháp lấy mẫu quét tức thời (Scan Sampling theo Altmann 1974) với khoảng cách 3 phút/lần trong 17 ngày thực địa trên 2 đàn khỉ, kết hợp lập 4 ô tiêu chuẩn điều tra thực vật và xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 20 với độ tin cậy thống kê 95%.
Kết luận
- Luận văn xác định thực vật là nguồn dinh dưỡng sống còn chiếm 78,0% khẩu phần ăn của khỉ vàng tại Cù Lao Chàm.
- Nhận diện chi Mít (122 lần quan sát) và chi Sung (58 lần quan sát) giữ vai trò sinh thái chủ đạo trong cấu trúc thức ăn tự nhiên và rẫy.
- Bổ sung thành công 13 loài thực vật mới vào cơ sở dữ liệu thức ăn của loài Macaca mulatta tại Việt Nam thông qua khảo sát 4 ô tiêu chuẩn.
- Xác lập bức tranh phân bổ thời gian ban ngày với 40,85% dành cho ăn và 33,66% dành cho di chuyển từ 1126 mẫu scan thực địa.
- Đánh giá toàn diện nguy cơ xung đột sinh thái khi thực phẩm nhân tạo chiếm tới 20,7% khẩu phần dưới sức ép của hơn 400.000 lượt khách du lịch.
Công trình đã đóng góp nguồn dẫn liệu thực chứng xuất sắc cho chuyên ngành Sinh thái học và bảo tồn linh trưởng Việt Nam. Kế hoạch hành động bảo tồn giai đoạn 2019 - 2025 cần được triển khai ngay lập tức. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng hãy cùng ứng dụng các giải pháp khoa học từ luận văn để bảo vệ bền vững quần thể khỉ vàng và hệ sinh thái đảo Cù Lao Chàm.