Mở đầu là Albert Morice, một nhà vật lý và động vật học người Pháp khảo sát ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1873 -I877 đã xuất bản cuốn Coup d’Oeil sur la Faune de la Cochinchine Francaise (1875). Day là bản tóm tắt danh sách lưỡng cư bò sát đầu tiên của Việt Nam, trong danh sách có 13 loài lưỡng cư ( 12 loài lưỡng cư không đuôi, I loài ếch giun) mẫu vật được gởi về bảo tàng ở Lyon va Pari 1] Gilbert Tirant là một bác sĩ người Pháp (1885) đã mô tả được 17 loài ếch nhái ( gồm 15 loài ếch nhái,L loài ếch nhà, 1loài ếch giun), Ông đã mô tả và ghi nhận cả tên địa phương và mẫu vật được gởi về bảo tàng ở Lyon và Pari [47] Năm 1901, Boettger đã tiền hành nghiên cứu khu hệ ếch nhái ở khu vực Bắc Trung Bộ, các kết quả nghiên cứu được tông hợp trong cuén “Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen und Battrachien aus Annam” Vào những năm đầu của thế ky XX, người có nhiều công trình nghiên cứu về lưỡng cư - bò sát Việt Nam và Đông Dương phải kể đến Bourret R., giáo sư động vật học Trường Đại học Đông Dương. Những kết quả nghiên cứu ếch nhái Việt Nam đã công bố trong các thông báo khoa học của trường. Trong đó năm 1937, Bourret đã công bố loài Opryophryne poilani thu được ở Quảng Trị, Quảng Bình.
Năm 1939, ông công bố 12 loài bò sát - ếch nhái trong đó có loài Ophryophryne microstoma, Huia nasica, Rana kuhlii, Kurixalus banaensis, Rhacophorus leucomystax va Philautus banaensis. Năm 1942, trong chuyến khảo về ếch nhái Đông Duong., di ghi nhan thêm 4 loài ếch nhái: Rana kokchangae, Rana verrucospinosa, Megophrys longipes, Philautus petersi. Cac kết quả nghiên cứu của Ông trong giai đoạn này được viết thành cuốn “Les batraciens de I'Indochine” (Lưỡng cư ở Đông Dương) xuất bản năm 1942. Trong sách này Ông đã tổng kết được ở Đông Dương có 171 loài ếch nhái thuộc 9 họ và 3 bộ, trong đó có 2 loài (chiếm 1,17%) thuộc bộ không chân (Gymnophiona), 4 loài (chiếm 2,34%) thuộc bộ có đuôi (Caudata), 165 loài (chiếm 96,49 %) thuộc bộ không đuôi (Anura).
Trong 171 loài thì có 59 loài phân bố ở Việt Nam thuộc 9 họ, 3 bộ. Trong 3 năm Ông đã công bồ 5 loài ếch cây tại Đông Dương cụ thé tai Việt Nam|46] Cùng năm 1942, Anderson L., đã công bố kết quả nghiên cứu sưu tập &ch nhai 6 Viét Nam trong “A small collection of frogs from Annam” va thong báo 8 loài ếch nhái có 6 Nam Hué: Bufo melanostictus, Hyla anneetans, Phrynoglossus laevis, Rana limnocharis, Rana macrodon, Rana guentheri, Rana macrodactyla. Trong những công trình nghiên cứu khu hệ động vật nói chung, Đào Văn Tiến đã có công lao nghiên cứu về Éch nhái - Bò sát miền Bắc Việt Nam và đào tạo nhiều nhà khoa học chuyên sâu vé Ech nhái — Bò sát. Trong “Khoá định loại ếch nhái Việt Nam” [32] của Giáo sư đã xây dựng khóa định loại cho 87 loài ếch nhái (1977) ở Việt Nam, đồng thời khóa định loại này đã góp phần rất lớn cho việc xác định thành phần loài của khu hệ Phong Nha - Kẻ Bang, Son Tra, Nai Ba Den, U Minh Thượng, Hữu Liên, Yên Tử, Pù Mát, 'Vân Long,.
Từ sau Dao Văn Tiến có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này như Trần Kiên, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Sáng, Ngô Đắc Chứng, Nguyễn Quảng Trường,. và các nghiên cứu rộng khắp từ cả hai miền Bắc và Nam. Như nghiên cứu bò sát, ếch nhái ở một số vùng Tây Nam Bộ và vùng phụ cận (1979), thành phân loài bò sát, ếch nhái Tây Nguyên (1982) ở Kon Na Nig (1983, 1985). Từ năm 1992 đến năm 1997, trong “Nghiên cứu thành phần loài, sinh học một số loài ếch nhái, bò sát ở hệ sinh thái rừng” [23] Lê Nguyên Ngật đã xác định danh sách các loài ếch nhái tại các khu vực nghiên cứu như: KBT Hoàng Liên Sơn có 25 loài ếch nhái thuộc họ, 1 bộ; VQG Cúc Phương có 17 loài thuộc 5 họ, I bộ; Tây Nam Nghệ An có 17 loài thuộc 5 họ, ! bộ; Ngọc Linh (Kon Tum) có 19 loài thuộc 5 họ, 2 bộ.
Hoàng Xuân Quang (1993), thống kê danh mục lưỡng cư, bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài bò sát của 59 giống 17 họ và 34 loài lưỡng cư của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bô sung thêm cho danh lục lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung thêm cho vùng phân bó 9 loài. Bên cạnh 10 đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố lưỡng cư, bò sát trong nước. Các loài ếch cây liên tục phát hiện trong quá trình nghiên cứu.
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã thống kê thành phần loài, sự phân bố và tình trạng của 82 loài ếch nhái Việt Nam thuộc 9 họ, 3 bộ trong cuốn “Danh lục Bò sát - Éch nhái Việt Nam” [29]. Tuy nhiên, qua các đợt điều tra, khảo sát, khu hệ ếch nhái Việt Nam cho đến năm 2002 đã xác định được 147 loài thuộc 35 giống, 9 họ và 3 bộ. Như vậy, so với công bố năm 1996 của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc én năm 2002 đã bổ sung thêm 65 loài thuộc 9 họ, 3 bộ cho khu hệ ếch nhái Việt Nam. Ngô Đắc Chứng (1995), nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã đã thống kê được gồm 49 loài thuộc 15 họ, 3 bộ.
Có 3 loài lưỡng cư và 8 loài bò sát được xem là quý hiếm cần được bảo vệ [8] Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999), nghiên cứu về khu phân bố lưỡng cư, bò sát ở Nam Đông - Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23 loài lưỡng cư thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12 họ, 2 bộ [25] Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000), nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18 họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát. Mức độ đa dạng về số loài lưỡng cư, bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác[26]. Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nikolai Orlov (2007), nghiên cứu thành phẩn loài lưỡng cư, bò sát khu vực huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận được 41 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, trong đó có 01 loài mới cho khoa học là loài Nhái cây trường sơn Phirlautus truongsonensisOrlov and Ho, 2005 và S1 loài bò sát thuộc 8 họ 2 bộ [12] Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuan, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế (2007), công bó kết quả điều tra nghiên cứu thành phân loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã. Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996- 2006, đã xác định thành phàn loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19 họ của 3 bộ, trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của Bộ không đuôi - Anura, bò sát có 56 loài thuộc 14 họ của 2 bộ.
Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch Mã 3 ho ( ho Thin lin rin Anguirdae,ho Ria dau to Piratystemirdae, họ Rùa núi Testudirnidaef), 39 loài (14 loài lưỡng cư, 25 loài bò sát) [27] Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Andrew Grieser Johns, Cao Tiến Trung, Hồ Anh Tuan, Chu Văn Dững (2008), công bố công trình nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở KBTTN Pù Huống. Tác giả đã ghi nhận được 22 loài lưỡng cư thuộc 6 họ và 61 loài sò sát thuộc 15 họ, 2 bộ. [28] Tom lai, các kết quả nghiên cứu về khu hệ ếch nhái đã xác định và bổ sung được thành phần cũng như số lượng các loài ếch nhái cho Danh lục ếch nhái của từng vùng, từng khu vực, các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên ở Việt Nam. 12 Song song với những nghiên cứu thành phần loài khu hệ ếch nhái thì nghiên cứu về sinh thái học ếch nhái cũng đã được thực hiện như: Dẫn liệu bước đầu về sinh thái học ếch đồng của Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi năm 1966 [33] được xem là nghiên cứu đầu tiên về sinh thai hoc Ech nhái Việt Nam.
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của cá cóc Tam Đảo (Paramesotriton deloustali) trong bễ nuôi nhằm bé sung thêm dẫn liệu khoa học, xây dựng quy trình nhân nuôi góp phần bảo tồn loài ếch nhái quí hiếm này của Lê Nguyên Ngật, Đoàn Thị Phương Lý. Nghiên cứu sinh sản của các cóc Tam Đảo của Hồ Thu Cúc. Tìm hiểu sinh thái học giống ếch cây (Rhacophorus) của Việt Nam; Góp phần nghiên cứu họ ếch cây Rhacophoridae ở vùng phía Tây tinh Quang Ngai của Lê Thị Thanh, Đỉnh Thị Phương Anh đã xác định được 13 loài ếch cây và nơi phân bó của chúng [34]. Đặc điểm hình thái và sinh thái của ếch cây màng bơi đỏ Rhacophorus Rhodopus Liu&Hu,1960 ở vùng rừng Cao Muôn, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, của Dinh Thi Phương Anh, Lê Thị Thanh [7].
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của ếch gai sin Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) ở vùng A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế, của Ngô Đắc Chứng, Ngô Văn Bình[10]. Đặc điểm sinh sinh sản của ếch gai sần (Paa verrucospinosa (Bourret, 1937) )ở vùng A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế của Ngô Đắc Chứng, Ngô Văn Bình [I1]. Nghiên cứu đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của ếch cây Polypedates leucomystax tại tỉnh Đắk Lắk của Nguyễn Văn Lành, Võ Đào Nhật Quỳnh đã xác định được thành phần và tỉ lệ thành phần thức ăn của ếch cay Polypedates leucomystax. Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố theo độ cao của họ ếch cây Rhacophoridae tại khu BTTN Pù Hoạt đã xác định được 15 loại ếch cây và sự phân bó theo độ cao của chúng tại khu BTTN 13 Pù Hoạt[21].
Ở Việt Nam theo nghiên cứu Hồ Thu Cúc họ ếch cây có 32 loài ếch cây thuộc 5 giống vào năm 200013] Một hướng nghiên cứu mới đang được quan tâm là sinh học phân tử, đây là một hướng nghiên cứu hiện đại, nhằm phân tích tiến hóa phân tử và mối quan hệ phát sinh chủng loại, xác định độ đa dạng di truyền, sự sai khác di truyền và bảo tồn nguồn gen. Những nghiên cứu này đóng góp nhiều cho việc xác định và thay đổi tacxon. Đến năm 2009 ở Việt Nam theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quang Trường (2009) [29] có 176 loài lưỡng cư trong đó họ ếch cây có 48 loài thuộc 9 giống. Vậy trong 9 năm số lượng loài ếch cây đã tăng thêm 16 loài và tăng thêm 4 giống.
Và vẫn còn tăng thêm số lượng loài trong giai đoạn nghiên cứu sau này.