Chương 1: Tổng quan tài liệu ~ Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả và thảo luận - Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. SƠ LƯỢC NGHIÊN CỨU LINH TRƯỞNG Linh trưởng là một trong những nhóm thú phân bố rộng nhất trên thế giới, chúng sử dụng nhiều dạng sinh cảnh sống khác nhau, trong đó chúng phân bố tập trung chủ yếu ở các vùng rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới của hai bán cầu [44] Ngày nay nghiên cứu các loài linh trưởng được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã giúp các nhà khoa học nghiên cứu và tìm ra nhiều vấn đề hơn ở các loài linh trưởng, từ nguồn gốc tiến hóa cho đến mối quan hệ xã hội bầy đàn của chúng. Trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các loài thú Linh trưởng, qua các nghiên cứu của nhiều chuyên gia cho thấy sự đa dạng và phong phú về thành phần loài Linh trưởng là rất lớn, có khoảng từ 233 đến 282 loài. Chúng xuất hiện khắp các khu rừng nhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ.
Nghiên cứu về thú Linh trưởng giúp con người hiểu biết nhiều vấn đề hơn trong thế giới tự nhiên, các loài linh trưởng đóng một vai trò quan trọng trong việc thụ phấn và phát tán hạt trong các khu rừng nhiệt đới. Ngoài ra, sự gần gũi về nguồn gốc tiến hóa của các loài Linh trưởng đối với con người đã đưa loài Linh trưởng vào vị trí có những đóng góp cho tiền bộ y sinh học. Đặc biệt qua những kết quả nghiên cứu Linh trưởng về đặc điểm sinh thái học, tập tính, vùng phân bố đã có nhiều đóng góp trong việc tìm hiểu về sự tiến hóa của con người [44] 1. Ở Việt Nam Các nghiên cứu về động vật hoang dã, trong đó có các loài Linh trưởng, ở Việt Nam được bắt đầu chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện a.
Thời kỳ 1954- 1975 Phần lớn là kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài thông qua các cuộc điều tra và nghiên cứu thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới, phân loại và thống kê thành phần loài. Lúc đó chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài linh trưởng. Các nghiên cứu về đa dạng sinh học, trong đó có các loài Linh trưởng đã được tiếp tục thực hiện bởi các chuyên gia trong nước. Các nghiên cứu về Linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể đến các công trình: Đào Văn Tiến (1960) mô tả một loài Cu li mới - Cu li nhỡ (Wycricebus intermedius), Dao Van Tiến (1970) nghiên cứu về phân loài của loài Voọc đen má trắng (1rachypithecus ƒrancoisi) và đã mô tả một phân loài mới: Vooe Hà Tĩnh (7raclypitheeus hatinhensis Dao,1970); Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1975), trong cuốn “ Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình” đã mô tả và nêu một số nhận xét về đặc điềm sinh học, sinh thái học của 6 loài thú Linh trưởng phân bố ởtỉnh Hòa Bình (Khi cộc, Khi vàng, Khi đuôi lợn, Khi mốc, 'Voọc mông trắng, Vượn).
Sau năm 1975 Các điều tra nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt đối với các loài linh trưởng, được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước. Nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về Linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện. Đào Văn Tiến (1985) nghiên cứu Vượn đen ở Bắc Việt Nam. Trong cuốn “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” được xem là công trình tổng kết nghiên cứu tài nguyên thú miền Bắc Việt Nam từ năm 1957 ~ 1971 của các tác giả và cộng sự.
Đây là cuốn sách có giá trị về mặt khoa học trong phân loại, phân bố của các loài thú kể cả cá loài Linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam. Trong 129 loài và phân loài có 18 loài và phân loài Linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam [14] Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh và Đỗ Tước (1990), trong cuốn “Bảo vệ các loài động vật quý hiếm ở Việt Nam” đã phân hạng và sắp xếp các loài thú Linh trưởng theo 2 cấp phân loại: Nguy cấp (E) và sắp nguy cấp. Ngày nay một số nghiên cứu dai hạn về đặc điểm sinh học, sinh thái học đã và đang được tiến hành nghiên cứu trên các loài linh trưởng ở Việt Nam. Các nghiên cứu quan trọng bao gồm nghiên cứu của Hoàng Minh Đức và cộng sự trên loài Chà vá chân đen; Hà Thăng Long và cộng sự trên loài Chà vá chân xám; Nguyễn Vĩnh Thanh trên loài Voọc quần đùi trằng; Đồng Thanh Hải và Lê Khắc Quyết trên loài Voọc mũi hếch [11], [12], [13], [35], [36].
Tại khu vực nghiên cứu, Bán đảo Hòn Hèo Năm 2005 Ông Sylvio Lamarche phát hiện quần thể Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) tại bán đảo Hòn Hèo đi chuyển xuống khu vực gần Khu du lich Jungle Beach nơi ông đang sinh sống tại xã Ninh Phước, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Năm 2007, đoàn khảo sát của Viện Điều tra quy hoạch rừng, Trung tâm Cứu hộ thú linh trưởng quý hiếm Vườn quốc gia Cúc Phương và Chỉ cục Kiểm lâm Khánh Hòa khảo sát rừng Hòn Hèo ở ba xã Ninh Phú, Ninh Phước, 'Ninh Vân đã phát hiện có khoảng 100 - 110 cá thể Chà vá chân đen Đã có một nghiên cứu về màu sắc lông của loài Chà vá chân đen ở Hòn Hèo, Khánh Hòa được thực hiện bởi Nadler (2008). Nghiên cứu trên tập trung vào mô tả đặc điểm về màu sắc lông ở loài này. Theo đó, màu sắc lông ở tay và chân của quần thẻ Chà vá chân đen ở Hòn Hèo có thay đổi hoàn toàn với màu sắc của các quần thẻ khác đã được ghi nhận trước đây.
Một số cá thể Chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo, Khánh Hòa với màu sắc lông từ xám tới trắng ở cánh tay, chân sau có bộ lông màu đỏ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về di truyền học cho thấy quần thé Chà vá chân đen ở Hòn Hèo và các quần thể Chà vá chân đen khác là cùng một loài. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn ghi nhận quan thé Cha vá chân đen ở Hòn Hèo xuất hiện và di chuyển trên mặt đất, uống nước [59]. Ngoài ra chưa có nghiên cứu cụ thẻ nào về vùng phân bố, số lượng va đặc điểm sinh thái học của loài Chà vá chân đen ở khu vực bán đảo Hòn Hèo, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
DA DANG CÁC LOÀI LINH TRƯỞNG VIỆT NAM 'Việt Nam có mức độ đang dạng thú linh trưởng rất cao, với 25 loài và phân loài thuộc 3 trong số 5 họ linh trưởng của châu Á: Họ Cu li (Loridae), họ Khi và Voọc (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae). Hai họ còn lại ở chau A không phân bồ ở Việt Nam là Vượn nhảy nhỏ (Tarsiidae) và Đười ươi (Hominidae) phân bố hẹp tại các đảo của thềm lục địa Sunda [2], [11], [12], [20], [60]- Trong số 25 loài và phân loài, có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam: Khi đuôi dài Côn Đảo (Macaca faseieularis condorensis), Vọoc Mông Trắng (Trachypithecus delacouri), Vooc Cat Bà (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus), Cha va chin xam (Pygathrix cinerea), Vooc Mii héch (Rhinopithecus avunculus), Vugn den Tay Bic (Nomascus concolor). Chin loai khac dic hiu 6 Đông Dương và một vùng nhỏ ở Nam Trung Quốc [20], [60]. Ở Việt Nam, họ Cu li (Loridae) chỉ có 1 giống (Wycficebus) với hai loài cu li la: Cu li lon (Nycticebus bengalensis) va Cu li nhỏ (N.
Có thể có loài thứ ba nhưng taxon này chưa được mô tả [20], [60]. Họ Khi (Cercopithecidae) có hai phân họ: phân họ Khi (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae) véi 4 giéng: Macaca, Trachypithecus, Pygathrix va Rhinopithecus. Đây là họ cô số loài và phân loài phong phú nhất, với 18 loài và phân loài Phan ho Khi (Cercopithecinae) chi c6 1 giéng (Macaca) gém 6 loai va phan loai: Khi mat do (M. arctoides), Khi mốc (M.
assamensis), Khi đuôi dai (M. fascicularis fascicularis), Khi đuôi lợn (AM. leonina), Khi vàng (M. mulatta) và một phân loài Khi đuôi dai Con Dao (M.
Fascicularis condorensis ) là phân loài đặc hữu của Việt Nam. Hiện chỉ có phân bố ở một số đảo thuộc VQG Côn Đảo [20]. Phân họ Voọc (Colobinae) với 12 loài và phân loài, chiếm 48% tổng số taxon của linh trưởng tại Việt Nam, thuộc 3 giống: giống 7rachypithecus có 8 loài và phân loài, giống fygarhrix có 3 loài: Chà vá chân đen (P. Nigripes), Chà vá chân đỏ (P.
Nemaeus), và Chà vá chân xám (P. cinerea) và giống Rhinopithecus chi có 1 loài - Voọc mũi hếch (R. MOT SO DAC DIEM GIONG PYGATHRIX 1. Phân loại học Giống fygarlirix ở Việt Nam có 3 loài gồm: Chà vá chân đỏ - Pygathrix nemaeus (Linnaeus, 1771), Cha va chan den - Pygathrix nigripes (Milne - Edwards, 1871) va Cha va chân xim - Pygathrix cinerea (Tilo Nadler, 1997).
Chúng thuộc phân họ Voge Colobinae, ho Khi Cercopithecidae, b6 Linh truéng Primates. Ca 3 loai nay đều phân bó trên bán đảo Đông Dương. Chà vá chân đen (1) Chà vá chân xám(2) Chà vá chân đỏ (3) (Pygathrix nigripes) (Pygathrix cinerea) (Pygathrix nemaeus) Ảnh: (1) Hoàng Minh Đức; (2) Chương trình bảo tằn Chà vá chân xám ở VOG KKK; (3) Tilo Nadler Hinh 1.1, Cac loai Cha va giéng Pygathrix 1. Đặc điểm hình thái Chà vá là một loài khi lớn so với các loài khi khác thường ăn lá cây, 1I kích thước cơ thé dai tir 53 ~ 63cm, trọng lượng trung bình từ 5,3 ~ 11,Skg với nhiều màu sắc [6], [52], [57].
Chỉ sau dài hơn chỉ trước một chút. Đầu không có mào nhọn trên đỉnh. Mặt có ít hoặc trụi lông. Râu dài màu trắng được thông suốt hướng về phía sau và tạo thành một choàng qua cổ.
Mắt hình quả hạnh và góc mắt hơi nghiêng. Dương vật của con đực trưởng thành có màu đỏ tươi. Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể, dáng đuôi thon đều và phủ lông dài [49], [57]. Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi.
Màu lông con non có màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng. Đinh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen [57] Cha va trưởng thành có sự khác biệt về màu sắc ở cả 3 loài: Ở Chà vá chân xám và chà vá chân đỏ mặt màu cam sáng, quanh miệng màu trắng, chà vá chân đen có mặt màu xanh sáng, xung quanh mắt có quằng tròn màu kem.