Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một trong những quốc gia có độ đa dạng thú linh trưởng hàng đầu châu Á với 25 loài và phân loài, trong đó Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) thuộc phân họ Voọc ăn lá Colobinae là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của khu vực Đông Dương. Loài này hiện được xếp ở bậc Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ Thế giới của IUCN năm 2012 và Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, đồng thời được bảo vệ nghiêm ngặt ở mức cao nhất thuộc Nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Mặc dù được mô tả khoa học từ năm 1871, các dữ liệu chuyên sâu về đặc điểm sinh thái học, cấu trúc đàn và tập tính của loài tại bán đảo Hòn Hèo vẫn còn nhiều khoảng trống thông tin. Trong bối cảnh diện tích rừng tự nhiên trên cả nước suy giảm bình quân 10.000 ha mỗi năm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất và áp lực săn bắt thương mại, việc nghiên cứu quần thể tại địa phương mang tính cấp bách đặc biệt.

Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Sinh thái học của tác giả Nguyễn Ái Tâm, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hà Thăng Long tại Đại học Đà Nẵng, được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu toàn diện về sinh thái học quần thể, tập tính hoạt động và hiện trạng sinh cảnh của Chà vá chân đen. Địa bàn nghiên cứu tập trung tại bán đảo Hòn Hèo, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong khung thời gian từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013, trên diện tích tự nhiên 146 km2 với hơn 12.320 ha rừng. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập kích thước vùng sống 96 ha và đánh giá hiện trạng quần thể ước tính 142 cá thể, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý bảo tồn nguyên vị tại 7.850 ha rừng phòng hộ Hòn Hèo và hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc linh trưởng tại các trung tâm cứu hộ trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết sinh thái học quần thể linh trưởng và lý thuyết lựa chọn thức ăn tối ưu ở phân họ Voọc ăn lá Colobinae, phân họ chiếm tới 48% tổng số taxon linh trưởng tại Việt Nam. Về mặt địa lý sinh vật học, giống Pygathrix gồm 3 loài phân bố thay thế dần theo vĩ độ từ Bắc vào Nam, trong đó Chà vá chân đen chiếm lĩnh dải phân bố từ 14°30' Bắc đến 11°00' Bắc. Đề tài vận dụng mô hình cấu trúc tổ chức xã hội đơn đực - đa cái (One-Male Unit) kết hợp hiện tượng tách nhập đàn linh hoạt để lý giải phương thức thích nghi không gian của loài.

Bốn khái niệm lý thuyết cốt lõi được áp dụng xuyên suốt luận văn gồm:

  1. Vùng sống: Phạm vi không gian địa lý tối thiểu mà bầy đàn sử dụng để thực hiện các hoạt động kiếm ăn, nghỉ ngơi và sinh sản trong chu kỳ năm.
  2. Quỹ thời gian hoạt động: Cơ cấu tỷ lệ thời gian ban ngày phân bổ cho 5 nhóm hành vi cơ bản gồm ăn, nghỉ ngơi, di chuyển, xã hội và hoạt động khác.
  3. Cấu trúc lứa tuổi và giới tính: Phân loại hình thái cá thể đực trưởng thành với khối lượng 10,9 kg, chiều dài thân 500 đến 560 mm so với cá thể cái trưởng thành nặng 8,2 kg và các nhóm cá thể bán trưởng thành, con nhỡ, con non.
  4. Phân tầng dinh dưỡng: Mối quan hệ tương hỗ giữa thành phần thức ăn thực vật (lá non, quả chín, hoa, hạt) và cấu trúc phân tầng tán rừng nhiệt đới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực địa sơ cấp được thu thập trong 24 tháng (từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013) với tổng số 150 ngày điều tra thực địa. Cỡ mẫu hành vi đạt 3.749 lượt quan sát trên các độ tuổi và giới tính khác nhau thông qua 100 giờ 30 phút theo dõi chuyên sâu trong 105 ngày quan sát tập tính.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả thiết lập 12 tuyến khảo sát thực địa có tổng chiều dài 29,4 km (chiều dài mỗi tuyến từ 2,5 km đến 3,0 km) bao phủ các dạng sinh cảnh từ độ cao 50 m đến trên 800 m. Việc ghi nhận tập tính sử dụng phương pháp lấy mẫu quét thời gian gián đoạn (Scan-sampling theo Altmann, 1974) với chu kỳ quét cố định 5 phút một lần từ 5 giờ 00 đến 17 giờ 00 hàng ngày, đảm bảo tính đại diện và phản ánh đầy đủ nhịp điệu sinh học. Cấu trúc thảm thực vật được đo đếm qua hệ thống ô tiêu chuẩn diện tích 2.500 m2 (50 m x 50 m) đối với tất cả cây gỗ có đường kính ngang ngực DBH lớn hơn 5 cm. Phạm vi vùng sống được xác lập thông qua thiết bị định vị GPS kết hợp lưới ô vuông 200 m x 200 m trên bản đồ địa hình.

Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này xuất phát từ yêu cầu lượng hóa chính xác các tham số sinh thái học. Việc xử lý số liệu trên phần mềm chuyên dụng SPSS 16.0 và Excel 2010 giúp kiểm định thống kê tin cậy các biến số tập tính; đồng thời phần mềm MapInfo 10 cho phép số hóa bản đồ không gian và phân tích chính xác ranh giới vùng phân bố, loại bỏ tối đa các sai số thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã ghi nhận 4 phát hiện khoa học quan trọng về đặc điểm sinh thái học của Chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo:

  1. Hiện trạng quần thể và kích thước bầy đàn: Trên 12 tuyến khảo sát, nghiên cứu đã phát hiện trực tiếp 8 đàn với 130 cá thể, ước tính tổng quy mô quần thể đạt khoảng 142 cá thể. Kích thước bầy đàn dao động từ 4 đến 36 cá thể, đạt giá trị trung bình 11,9 cá thể mỗi đàn. Về cơ cấu quy mô, nhóm đàn từ 9 đến 15 cá thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,6%, đàn nhỏ từ 4 đến 8 cá thể chiếm 32,4%, đàn từ 16 đến 20 cá thể chiếm 11,4%, và đàn lớn trên 20 cá thể chỉ chiếm 7,6%.
  2. Cấu trúc giới tính và tổ chức bầy đàn: Tỷ lệ giới tính giữa cá thể đực trưởng thành và cái trưởng thành ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt ở mức 1 đực : 2,9 cái, cho thấy số lượng con cái nhiều gấp gần 3 lần con đực. Đàn lớn nhất phát hiện tại suối Ghềnh Nhảy gồm 36 cá thể với 5 đực trưởng thành, 17 cái trưởng thành, 1 đực bán trưởng thành, 3 cái bán trưởng thành, 2 con nhỡ, 2 con non và 6 cá thể chưa rõ giới tính.
  3. Phân bố sinh cảnh và phạm vi vùng sống: Loài phân bố độc tôn trong kiểu sinh cảnh rừng thường xanh ở độ cao từ 150 m đến 800 m so với mực nước biển, hoàn toàn không xuất hiện tại các trảng cỏ, trảng cây bụi hay nương rẫy canh tác. Diện tích vùng sống của đàn được lượng hóa ở mức 96 ha.
  4. Áp lực đe dọa sinh thái: Khảo sát thực địa ghi nhận mật độ tác động nhân sinh tiêu cực rất lớn, bao gồm sự hiện diện của bẫy thú, hoạt động đốt than củi thủ công, lán trại xâm lấn và mở đường giao thông chia cắt sinh cảnh của 100% các đàn được theo dõi.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc tổ chức đàn đơn đực - đa cái và cơ chế tách nhập đàn linh hoạt là phương thức thích nghi tiến hóa cao của Chà vá chân đen nhằm tối ưu hóa hiệu quả kiếm ăn, giảm thiểu sự cạnh tranh nguồn thức ăn thực vật phân tán theo mùa và hạn chế xung đột bầy đàn. Kết quả về quy mô đàn từ 4 đến 36 cá thể tại Hòn Hèo hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Hoàng Minh Đức tại Vườn quốc gia Núi Chúa (dao động từ 1 đến 45 cá thể, tỷ lệ đực cái 1 đực : 2,3 cái) và nghiên cứu của Phạm Duy Thức tại Vườn quốc gia Cát Tiên (từ 1 đến 17 cá thể). Việc các đàn tập trung đông ở khu vực sườn dốc hiểm trở và gần khe suối phản ánh chiến lược phòng vệ tự nhiên trước các hoạt động săn bắn của con người, đồng thời tiếp cận nguồn nước ổn định và thảm thực vật thường xanh có độ ẩm cao.

Các dữ liệu định lượng trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống bảng và biểu đồ chuyên đề:

  • Biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ quy mô các nhóm đàn, làm nổi bật ưu thế vượt trội của nhóm đàn 9 đến 15 cá thể chiếm 48,6%.
  • Biểu đồ cột thể hiện sự biến thiên của quỹ thời gian hoạt động theo các khung giờ từ 5 giờ 00 đến 17 giờ 00, phản ánh rõ 2 đỉnh hoạt động kiếm ăn vào sáng sớm và cuối chiều.
  • Bảng ma trận mã hóa hành vi và loại giá đỡ, so sánh chi tiết tần suất sử dụng cành to trên 10 cm, cành nhỏ dưới 10 cm, vòm tán cây và mặt đất đá trong các hoạt động chức năng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả khảo sát thực địa, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị hành động trọng tâm nhằm bảo tồn bền vững quần thể Chà vá chân đen:

  1. Nâng cao năng lực tuần tra và triệt phá bẫy săn bắt: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa duy trì tối thiểu 15 đợt tuần tra rừng mỗi tháng, hướng tới mục tiêu tháo dỡ 90% số lượng bẫy động vật và xóa bỏ hoàn toàn các điểm đốt than củi trái phép trong vòng 12 tháng tới.
  2. Phục hồi và kết nối hành lang sinh thái: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ triển khai dự án trồng phục hồi 200 ha rừng bản địa tại các trảng đất suy thoái ven suối, nhằm mở rộng diện tích vùng sống từ 96 ha lên trên 150 ha trong giai đoạn 2024 - 2028.
  3. Thiết lập hệ thống giám sát đa dạng sinh học định kỳ: Đội ngũ kiểm lâm cơ sở liên kết với các viện nghiên cứu chuyên ngành thực hiện điều tra định lượng 6 tháng một lần trên 12 tuyến khảo sát chuẩn hóa, nhằm kiểm soát ổn định quy mô tối thiểu 142 cá thể và theo dõi biến động tỷ lệ sinh sản trong 3 năm liên tiếp.
  4. Phát triển chương trình truyền thông và sinh kế bền vững: Chính quyền địa phương tại 7 xã ven bán đảo (Ninh Phước, Ninh Phú, Ninh Vân, Ninh Thủy, Ninh Diêm, Ninh Đa, Ninh Thọ) tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức bảo tồn cho ít nhất 85% hộ dân sống giáp ranh rừng, kết hợp chuyển đổi mô hình du lịch sinh thái có kiểm soát, hoàn thành trước quý IV năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật to lớn cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cơ quan quản lý lâm nghiệp và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp bản đồ phân bố không gian 8 đàn linh trưởng và hệ thống 12 tuyến khảo sát thực địa làm căn cứ pháp lý để thành lập Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp tỉnh tại bán đảo Hòn Hèo.
  2. Nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Sinh học - Sinh thái học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình lấy mẫu quét thời gian gián đoạn scan-sampling 5 phút của Altmann (1974) và phương pháp phân tích tương quan sinh thái học bằng phần mềm SPSS.
  3. Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và các Vườn quốc gia: Cung cấp các thông số sinh học chuẩn về tỷ lệ giới tính 1 đực : 2,9 cái, tập tính sử dụng giá đỡ cành to trên 10 cm và phổ thức ăn lá cây phục vụ công tác thiết kế chuồng nuôi bán tự nhiên và tái thả linh trưởng.
  4. Tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn quốc tế: Cung cấp dẫn chứng khoa học cập nhật về quần thể 142 cá thể Chà vá chân đen phục vụ đánh giá tình trạng loài theo tiêu chí Danh lục Đỏ IUCN và xây dựng hồ sơ vận động tài trợ cho các dự án bảo tồn linh trưởng Đông Dương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chà vá chân đen có đặc điểm nhận dạng nổi bật nào so với các loài Chà vá khác? Chà vá chân đen mang đặc trưng với khuôn mặt màu xanh nhạt, quầng vàng lớn quanh mắt, hai chân sau màu đen tuyền, cánh tay màu xám và bụng đuôi màu trắng. Con đực trưởng thành nặng khoảng 10,9 kg và có khoang lông trắng ở cổ tay, phân biệt rõ với Chà vá chân nâu có chân màu đỏ và Chà vá chân xám có chân màu xám tro.

  2. Quy mô và cấu trúc quần thể Chà vá chân đen tại Hòn Hèo ra sao? Nghiên cứu xác định trực tiếp 130 cá thể trong 8 đàn, ước tính toàn khu vực đạt 142 cá thể. Quy mô đàn dao động từ 4 đến 36 cá thể với giá trị trung bình 11,9 cá thể mỗi đàn. Cấu trúc bầy tuân theo mô hình đơn đực - đa cái với tỷ lệ giới tính 1 đực : 2,9 cái, trong đó đàn suối Ghềnh Nhảy ghi nhận số lượng lớn nhất với 36 cá thể.

  3. Luận văn sử dụng phương pháp nào để nghiên cứu tập tính của loài? Tác giả áp dụng phương pháp lấy mẫu quét thời gian gián đoạn scan-sampling của Altmann với tần suất 5 phút một lần từ 5 giờ 00 đến 17 giờ 00 hàng ngày. Tổng cộng 3.749 lượt hành vi được ghi nhận qua 100 giờ 30 phút trong 105 ngày thực địa, kết hợp khảo sát 12 tuyến điều tra có tổng chiều dài 29,4 km.

  4. Diện tích vùng sống và sinh cảnh ưa thích của Chà vá chân đen là gì? Vùng sống của đàn Chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo có diện tích xác định đạt 96 ha. Loài chỉ cư trú trong sinh cảnh rừng thường xanh nhiệt đới ở các khu vực sườn dốc lớn và gần khe suối tại độ cao từ 150 m đến 800 m, hoàn toàn vắng bóng tại sinh cảnh trảng cỏ, trảng bụi và nương rẫy thoái hóa.

  5. Những mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn vong của loài tại khu vực là gì? Quần thể đối mặt với ba áp lực nhân sinh nghiêm trọng gồm nạn bẫy bắt động vật phục vụ nấu cao và thương mại, hoạt động đốn củi đốt than làm suy thoái thảm thực vật, cùng việc mở đường giao thông chia cắt sinh cảnh tự nhiên. Các tác động này trực tiếp làm suy giảm diện tích rừng và cô lập các bầy đàn.

Kết luận

Tổng kết lại, công trình nghiên cứu mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Xác định hiện trạng quần thể Chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo với 8 đàn gồm 130 cá thể phát hiện trực tiếp và ước tính đạt 142 cá thể.
  • Làm rõ cấu trúc xã hội đơn đực - đa cái đặc trưng với tỷ lệ giới tính trưởng thành 1 đực : 2,9 cái và quy mô đàn trung bình 11,9 cá thể.
  • Xác lập diện tích vùng sống 96 ha gắn liền với sinh cảnh rừng thường xanh sườn dốc ở độ cao từ 150 m đến 800 m.
  • Thu thập hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác với 3.749 lượt quan sát hành vi trong 100 giờ 30 phút theo dõi thực địa chuyên sâu.
  • Phân tích toàn diện hệ thống tác nhân đe dọa nhân sinh như bẫy bắt, đốt than củi và mở đường làm cơ sở hoạch định chính sách bảo tồn.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ái Tâm là công trình khoa học tiên phong cung cấp bức tranh sinh thái học toàn diện về Chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo, đóng góp luận cứ vững chắc cho chiến lược bảo tồn linh trưởng cấp quốc gia. Trong giai đoạn 2024 - 2026, các cấp quản lý cần nhanh chóng thành lập khu bảo vệ loài - sinh cảnh tại địa phương. Hãy chung tay hành động chấm dứt nạn săn bắt trái phép và bảo vệ hệ sinh thái rừng tự nhiên ngay hôm nay để gìn giữ loài linh trưởng đặc hữu quý báu cho tương lai.