CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE HO DE MEN GRYLLIDAE LLL. Trén thé gidi Những nghiên cứu dau tién vé ho dé mén Gryllidae phải kể đến từ thời của Aritote (384-322TCN). Ông đã đề cập tới 60 loài côn trùng và ông đã gọi chúng là loại động vật có chân đốt.
Trong số này có dé cập đến một số loài thuộc họ Gryllidae với các mô tả sơ lược về hình thái và tập tính [12]. Đến thế kỷ XVII, C.Line (1707-1778) năm 1735 đã phân loại một cách có hệ thống họ Gryllidae trong cuốn sách ní lếng Systema naturae. Ông chia lớp côn trùng thành 7 bộ [24], [28]. Cuối thé ky XVII, Pallas (Vign sĩ người Nga) đã nghiên cứu và mô tả họ Gryllidae như một họ côn trùng có hại cho sản xuất nông lâm nghiệp bởi đặc tinh đào bới dat và bộ hàm có khả năng nghiền nát nhiều loại cây trồng [8], [12].
Đến thế kỷ XIX, các nghiên cứu về họ Gryllidae được dé cập đến nhiều trong các tài liệu về côn trùng ở châu Âu, châu Mỹ (gồm 40 tập), ở Madagatsca (gồm 6 tập), ở quần đảo Haoai, Án Độ và nhiều nước khác trên thế giới [24]. Trong các tài liệu này đều đề cập đến các loài thuộc họ dế mèn Gryllidae với các đặc điểm về hình thái, sinh sản, khóa phân loại đến loài, vai trò cũng như tác hại của chúng đối với sản xuất nông nghiệp. Nhà côn trùng học Nga - Keppen (1882 - 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc họ Gryllidae, bộ Cánh. thăng vẻ hình thái, phân loại.
Ông chỉ ra rằng, đặc điểm chung để nhận biết các loài thuộc họ này là có đầu kiểu hypognathis, cánh trước là cánh da, cánh sau là cánh màng có hình quạt. Những cuộc khảo sát, nghiên cứu của các nhà côn trùng Nga như Potarin (1899 — 1976), Provoroski (1895 - 1979), Kozlov (1883 ~ 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm Châu Á. Mông Cô và miền tây Trung Quốc bổ sung thêm vào kho tư liệu danh mục các loài thuộc họ Gryllidae nhiều loài mới [8]. Đến thế kỷ XX, các nghiên cứu về họ Gryllidae xuất hiện khá nhiều và đầy đủ.LIlinski (1948) đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến phân loại một số loài thuộc họ dé mèn Gryliidae.
Theo đó, họ Gryllidae thuộc loại trắng, được đẻ rải rác trong đất. Âu trùng của họ Gryllidae có nhiề nhau [17]. Xegolop viết cuốn “Côn rừng học” giới thiệu một số loài thuộc họ dễ mèn Gryliidae với mô ta chỉ tiết về cấu tạo các phần đầu, ngực, bụng và cho biết trên thế giới đã phát hiện được hơn 1000 loài thuộc họ này. Cũng theo tác giả thì họ Gryllidae thường hoạt động về đêm và đẻ trứng trong đất với số lượng từ vài trăm cho đến vài nghìn trứng cho mỗi cá thể cái [15].
Bekker (người Nga) xuất bản cuốn “?huyết tiến hóa hình thái côn trùng" được xem là một trong số các nghiên cứu có giá trị to lớn của ông về Côn trùng học. Cuốn sách đóng vai trò phương pháp luận trong nghiên cứu hình thái học côn trùng, làm cơ sở của sinh thái học, tiến hóa học côn trùng [3]. Các nghiên cứu chỉ tiết về cấu tạo các loài thuộc họ Gryllidae thuộc về Donal Borror (1966). Ông nghiên cứu và mô tả một cách chỉ tiết về phần phụ miệng kiểu nghiền và phân loại, mô tả cấu tạo chỉ tiết chân và râu của họ dế [24].
Nam 1977, hệ thống phân loại côn trùng của Mazokhin ~ Porniakov ra đời đã chia lớp côn trùng thành 2 phân lớp và 33 bộ. Trong đó, họ Gryllidae được xếp thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera) thuộc tổng bộ Cánh thẳng (Orthopteroidea), phân lớp hàm ngoài (hàm hở - Ectognatha) [24]. Hệ thống phân loại này được thừa nhận và sử dụng cho đến ngày nay. Các nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng làm thực phẩm của họ dé mèn Gryllidae xuất hiện đầu tiên năm 2005, trén cudn sich Ecological Implication of Minilivestock: Potential of Insects, Rodents, Frogs and Snails (Ung dung sinh thái vật nuôi nhỏ: Tiêm năng của côn trùng, găm nhắm, ếch nhái và Ốc sên).
Cuốn sách đã trình bày số calori, prôtê¡n, chất béo và chất xơ ở phần. lớn các loài côn trùng ăn được trong đó có họ Gryllidae. Theo đó, trong thành phần prôtê¡n của dế mèn còn có chứa một loại axit amin không thay thế như cysteine và methionine.Hàm lượng chiủn của dế trưởng thành chiếm 8,7% có chất lượng tốt hơn so với chitin của tôm và cua. Ngoài ra còn có các bản phụ trong đó tóm tắt lại tiềm năng của những loài động vật này trong việc đóng góp những chất quan trọng vào khâu phần ăn như axit amin, chất béo, chất khoáng, vitamin tốt cho sức khỏe [6], [30].
Tiếp theo đó, năm 2006, nhà khoa học thực phẩm Francis O.Orech và cộng sự đã tiến hành khảo sát nguồn khoáng chất tốt có trong các loại côn trùng là kiến, mối và đế. Nhóm đã phát hiện ra loài để có hàm lượng khoáng. chất cao nhất. Cụ thể 100g dế khô chứa hơn 1.550mg sắt, 25mg kẽm và 340mg canxi, chỉ cần 3 con dế là đủ cung cấp nguồn chất sắt hàng ngày cho con người.
Kết quả này được trình bày trên tờ /ưernational Journal øƒ` Food Sciences and Nutrition (30). các nghiên cứu về côn trùng nói chung và ho Gryllidae nói riêng trước cách mạng tháng tám còn rất ít. Về phương diện côn trùng làm thực phẩm đáng chú ý có nghiên cứu của kỹ sư canh nông Nguyễn Công “Tiểu (1928) đã cho đăng một khảo luận bằng tiếng Pháp nhan đề “Một số ghỉ chép về các loài côn trùng làm thực phẩm ở Bắc bổ" trên tập san Kinh tế Đông Dương [30]. Từ năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, xuất phát từ nhu cầu sản xuất nông lâm nghiệp, việc điều tra cơ bản về côn trùng mới được chú ý.
Năm 1961 và 1965, năm 1967 và 1968 bộ Nông Nghiệp đã tô chức các đợt điều tra co ban xác định được 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau. Các nghiên cứu chỉ tập trung vào hướng nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân bồ, đặc dié sinh lí của loài. nhằm phục vụ công tác bảo vệ thực vật. các nghiên cứu này, họ Gryllidae ở Việt Nam được xác định có 5 loài thường gặp thuộc các chỉ Gryllus, Brachytrypes, Loxoglammus.
Các nghiên cứu ứng dụng cho mục đích làm nguồn thực phẩm còn rất it. Nam 2000, Bùi Hữu Mạnh và các cộng sự của mình trong một nghiên cứu về côn trùng ở vườn quốc gia Cát Tiên đã lập được một dạnh mục gồm 749 loài, 47 họ thuộc 8 bộ. Trong đó bộ Cánh thẳng được xác định có họ dế mèn Gryllidae véi 1 loài dé com Brachytrupes partentosus. Nam 2006, Vii Quang Mạnh xuất bản cuốn “Thể giới côn trùng trong lòng đắt" cũng đề cập đến các đặc điểm lý thú như vòng đời, sự thích nghỉ với môi trường sống.
của các loại côn trùng trong đó có họ đế mèn Gryllidae. Theo đó, sở dĩ dế mèn phải sống. trong lòng đắt là vì chúng sợ mắt nước dưới ánh sáng mặt trời, do bề mặt cơ thể chúng chỉ được phủ một lớp sáp dày không quá 1 micromet. Tiếng ca hát của dễ mèn khi đến mùa sinh sản là của dến mèn đực, dế mèn cái không có khả năng.
Lê Trọng Sơn (Đại học Huế) năm 2011 xuất bản cuốn giáo trình “Côn tràng học” trong đó đề cập nhiều đến các đặc điểm về phân loại, hình thái, sinh lý của các loài côn trùng theo họ, bộ. Bộ Cánh thẳng Orthoptera được. thống kê gồm 2 bộ phụ với 7 họ và 21. Họ dế mèn Gryllidae được mô tả với 5 loài thường gặp của Việt Nam.
Ông cũng viết cuén “Sinh thai học côn trùng” trong đó đề cập đến các quy luật sinh thái chung đối với cá thể và quần thể côn trùng, một số phương pháp mô tả sự biến động số lượng quần thể côn trùng bằng các mô hình toán học [24], [25]. Nói chung các nghiên cứu về họ Gryllidae ở nước ta còn chưa nhiều, chưa có các nghiên cứu riêng biệt mà chỉ nằm chung trong các nghiên cứu về côn trùng. Các nghiên cứu về giá trị thực phẩm còn rất ít. Có một nghiên cứu.
rất đáng chú ý của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Bắc Giang chủ trì ngày 17/10/2011, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: "Nghiên cứu các thành phân dinh dưỡng của Dề Mèn có lợi cho sức khỏe con người". Theo nghiên cứu này, các loài thuộc họ đế mèn Gryllidae là nguồn thực phâm có giá trị dinh dưỡng rất cao [14]. Cụ thé: Bảng 1.1 : Kết quả phân tích prôtêin, lipit, cacbonhydrat STT Tên chỉ tiêu Dé mèn | Thịt bò | Thịt lợn 1 Hàm lượng protein (%) 16/73 | 2191 | 2328 2 Hàm lượng lipit () 1255 | 025 | 401 3 Hàm lượng cacbonhydrat (%) 398 | 141 | 3/52 Bảng 1.2: Kết quả phân tích Ca,Fe, Mg, Zn STT Ten chỉ tiêu Để mèn | Thịtbò | Thitlon 1 Hàm lượng Ca ( mg/kg) 334/102 | 26.147 | 40231 2 Hàm lượng Mg ( mg/kg) 168,713 165,504 | 178,422 3 Hàm lượng Fe( mg/kg) 22247 | 1175 | 3344 4 Hàm lượng Zn ( mg/kg) 49,069 | 27.3: Kết quả phân tích hàm lượng axit amin STT Tên chỉ tiêu Để mèn | Thịt bò 1 Hầm lượng Lysine (mg/100g) 575 | 4182 2 Ham lugng Tryptophane (mg/100g) 922 | 556 3 Hầm lượng Aniline(mg/100g) 2215 | 392.9 10 Ngoài ra, theo kết quả phân tích hàm lượng dinh dưỡng của bộ Ytế đối với dế than theo giấy chứng nhận số 002273/ATVSTP cấp ngày 19/5/2005 theo để nghị giám định của anh Lê Thanh Tùng (chủ trang trại dế Thanh Tùng) đã xác định: mẫu dế thử nghiệm có giá trị năng lượng 105,95kcal/mol (30). Riêng các nghiên cứu vé loai dé than Gryllus bimaculatus De Geer, theo chúng tôi được biết mới chỉ có 2 nghiên cứu của Từ Văn Dững, Nguyễn 'Văn Huỳnh và Trương Văn Trí.
Cụ thể, năm 2008, Từ Văn Dững và Nguyễn 'Văn Huỳnh đã tiến hành khảo sát một số đặc điểm về tập tính sinh học liên quan đến việc nuôi sản xuất dế than tại đồng bằng sông Cửu Long đăng trên tạp chí khoa học của Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu này chỉ ra, vòng đời trung bình của để than trong điều kiện nuôi là 56,3 ngày gồm cả giai đoạn ủ trứng, tỉ lệ nở của trứng là khoảng 91%. Vòng đời của dể than trong điều kiện nuôi trải qua 8 lần lột xác. Lần cuối cùng gọi là vũ hóa để thành con trưởng thành [6].
Năm 2011, Trương Văn Trí, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.