Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy vực nước ngọt trên thế giới hiện là nơi cư trú của hơn 50.000 loài vi tảo được ghi nhận, đóng vai trò nền tảng cung cấp năng lượng cho toàn bộ lưới thức ăn thủy sinh. Tại thành phố Đà Nẵng, mạng lưới thủy văn gồm 9 con sông lớn với chiều dài hàng trăm kilômét cùng 42 hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo tạo nên nguồn tài nguyên sinh học vô cùng phong phú. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và các hoạt động xả thải sinh hoạt, công nghiệp chưa qua xử lý triệt để đang tạo áp lực lớn lên chất lượng nước mặt. Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại địa phương chủ yếu tập trung vào hệ động thực vật bậc cao, trong khi khu hệ sinh vật phù du bậc thấp chưa được đánh giá đầy đủ.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu xác định cấu trúc thành phần loài, độ giàu loài và sự phân bố của quần xã tảo phù du tại các thủy vực nước ngọt tiêu biểu ở Đà Nẵng. Đồng thời, đề tài tiến hành đo đạc các thông số hóa lý môi trường nước để xác lập mối tương quan giữa đặc điểm sinh học của vi tảo và mức độ ô nhiễm hữu cơ. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 10 thủy vực nước ngọt trọng điểm gồm 6 hồ và 4 phân đoạn sông chính, tiến hành khảo sát và thu mẫu trong giai đoạn từ tháng 06/2018 đến tháng 04/2019.

Kết quả đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp bộ dữ liệu phân loại học với 104 loài vi tảo, đồng thời xây dựng mô hình phân tích thành phần chính PCA giải thích tới 76,3% tổng phương sai môi trường. Đây là luận cứ quan trọng giúp các cơ quan quản lý thiết lập hệ thống quan trắc sinh học tự nhiên và định hướng các giải pháp bảo vệ hệ sinh thái thủy vực bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết phú dưỡng hóa nguồn nước và lý thuyết chỉ thị sinh học môi trường của Liebmann và hệ thống đánh giá Saprobien. Theo các khung lý thuyết này, thành phần và mật độ của các ngành tảo phù du phản ánh trực tiếp mức độ tích tụ dinh dưỡng hữu cơ và nồng độ các muối khoáng hòa tan trong cột nước. Đề tài cũng vận dụng chỉ số hỗn hợp CI của Nygaard năm 1949 nhằm định lượng mức độ phì dưỡng dựa trên tỷ lệ giữa các nhóm tảo nhạy cảm và nhóm tảo chịu ô nhiễm.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được áp dụng xuyên suốt bao gồm:

  • Tảo phù du (Phytoplankton): Tập hợp các vi sinh vật quang tự dưỡng sống trôi nổi trong tầng nước mặt, giữ vai trò sản xuất sơ cấp ban đầu.
  • Vùng chiếu sáng hữu hiệu (Euphotic zone): Tầng nước có đủ cường độ quang hợp từ 400 đến 720 nm để vi tảo duy trì cân bằng năng lượng sinh khối.
  • Độ phong phú loài và chỉ số tương đồng Bray - Curtis: Công cụ đo lường mức độ biến dị và độ tương đồng cấu trúc quần xã sinh thái giữa các thủy vực độc lập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên 10 điểm thu mẫu cố định đại diện cho hai loại hình thủy vực đặc trưng: nhóm thủy vực dạng hồ gồm hồ Công Viên, hồ Xanh, hồ Hói Khê, hồ Đồng Xanh - Đồng Nghệ, hồ Bàu Tràm, hồ Bàu Trảng; và nhóm thủy vực dạng sông gồm sông Hàn, sông Đô Tỏa, sông Cẩm Lệ, sông Cu Đê. Cỡ mẫu bao gồm 10 tổ hợp mẫu định tính vi tảo và 10 mẫu nước mặt được thu thập đồng bộ vào tháng 10/2018. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát các điểm tiếp nhận nguồn thải đô thị, khu vực nông thôn và vùng nước đầu nguồn tự nhiên.

Mẫu định tính vi tảo được thu thập bằng lưới Juday hình nón tiêu chuẩn với kích thước mắt lưới 30 µm, giúp lọc giữ nguyên vẹn hình thái tế bào vi tảo kích thước hiển vi mà không làm biến dạng cấu trúc. Mẫu sinh học được cố định trực tiếp tại hiện trường bằng Formalin 4%. Việc lấy và bảo quản mẫu hóa lý nước tuân thủ nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn TCVN 5994-1995 và TCVN 6663. Tại phòng thí nghiệm, vi tảo được định danh dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại từ 40x đến 1000x kết hợp thiết bị ghi hình kỹ thuật số, đối chiếu với hệ thống phân loại AlgaeBase của Guiry.

Các thông số hóa lý nước gồm NO3-, NO2-, NH4+, PO43- được phân tích theo phương pháp trắc phổ tiêu chuẩn quốc gia TCVN. Dữ liệu sau đó được xử lý qua các chỉ số ước đoán độ giàu loài Chao 1, Jackknife 1, Bootstrap với 100 lần lặp ngẫu nhiên và phân tích mô hình tương quan đa biến CCA, PCA trên phần mềm thống kê chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 104 loài tảo phù du thuộc 34 họ và 6 ngành phân loại khác nhau tại 10 thủy vực nước ngọt ở thành phố Đà Nẵng. Cấu trúc quần xã vi tảo có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngành:

  • Ngành Tảo lục (Chlorophyta) chiếm tỷ lệ đa dạng lớn nhất với 32 loài, tương đương 30,8% tổng số loài.
  • Ngành Luân tảo (Charophyta) đứng thứ hai với 29 loài, chiếm 27,9%.
  • Ngành Tảo mắt (Euglenophyta) ghi nhận 15 loài, chiếm 14,4%.
  • Ngành Tảo silic (Bacillariophyta) có 13 loài, chiếm 12,5%.
  • Ngành Tảo lam (Cyanophyta) và Tảo giáp (Dinophyta) có độ giàu loài thấp nhất, lần lượt là 8 loài (chiếm 7,7%) và 7 loài (chiếm 6,7%).

Cấu trúc phân bố vi sinh vật thể hiện sự khác biệt lớn giữa hai loại hình sinh cảnh. Nhóm thủy vực dạng hồ ghi nhận 66 loài, nổi bật với sự xuất hiện vượt trội của ngành Tảo mắt gồm 14 loài. Ngược lại, nhóm thủy vực dạng sông ghi nhận 54 loài nhưng lại chiếm ưu thế tuyệt đối về ngành Tảo silic với 12 loài, cao gấp 6 lần so với khu vực hồ chỉ có 2 loài. Loài Scenedesmus quadricauda có tần suất xuất hiện phổ biến nhất đạt 60%, trong khi chỉ số khác biệt Bray - Curtis giữa các điểm dao động từ 58,14% đến 100% với 63 loài chỉ xuất hiện cục bộ tại duy nhất một thủy vực.

Về mặt môi trường, hồ Bàu Trảng và hồ Công Viên ghi nhận tình trạng phú dưỡng nghiêm trọng. Tại hồ Bàu Trảng, mẫu nước kiềm hóa mạnh với độ pH đạt 10,93 (vượt giới hạn quy chuẩn B2 là 9,0), hàm lượng nitơ tổng số TN đạt đỉnh 18,039 mg/L (vượt xa ngưỡng B2 là 15,95 mg/L), và hàm lượng oxy hòa tan DO giảm xuống dưới 1,5 mg/L (thấp hơn 3,5 lần mức quy chuẩn B1). Ngược lại, sông Cu Đê và hồ Hói Khê duy trì môi trường trong lành với DO đạt 8,46 mg/L và hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS chỉ ở mức 0,03 mg/L.

Thảo luận kết quả

Sự sai khác sâu sắc về cấu trúc quần xã vi tảo gắn liền với đặc điểm thủy văn và mức độ tiếp nhận nguồn thải tại từng thủy vực. Tại hồ Bàu Trảng, do tiếp nhận trực tiếp dòng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý từ khu vực sân bay dẫn qua kênh Phần Lăng dài hơn 1 km, lượng nitơ và hợp chất hữu cơ tích tụ khổng lồ đã kích thích 13 loài Tảo mắt thuộc các chi Phacus, Euglena bùng phát. Tảo mắt là nhóm sinh vật có khả năng dị dưỡng hoại sinh, phát triển ưu thế tại các vùng nước ô nhiễm nặng (Polysaprobic).

Trái lại, tại các thủy vực dạng sông như sông Hàn, sông Cẩm Lệ, tốc độ dòng chảy lưu thông cao kết hợp hàm lượng phosphat PO43- trung bình từ 0,68 đến 0,77 mg/L (cao gấp gần 10 lần so với các hồ) và tổng chất rắn hòa tan TDS từ 6,026 đến 11,6 g/L đã tạo điều kiện lý tưởng cho Tảo silic (Bacillariophyta) sinh trưởng. Tảo silic cần dòng chảy để duy trì trạng thái lơ lửng và hấp thụ silicate hình thành lớp vỏ tế bào.

Mô hình phân tích thành phần chính PCA được trực quan hóa qua biểu đồ phân tán hai chiều thể hiện rõ quy luật này. Trục PC1 giải thích 50,7% biến thiên với trọng số ảnh hưởng lớn nhất thuộc về nitơ tổng số TN (0,50), oxy hòa tan DO (0,47) và pH (0,46). Trục PC2 giải thích 25,6% phương sai chịu sự chi phối của tổng chất rắn hòa tan TDS (0,51) và phosphat (0,477). Biểu đồ cột chồng cấu trúc loài kết hợp ma trận tương quan CCA khẳng định tính khả thi của việc sử dụng Tảo mắt và Tảo silic làm sinh vật chỉ huy đánh giá mức độ phì dưỡng nước mặt đô thị.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng và vận hành trạm xử lý nước thải tập trung tại lưu vực kênh Phần Lăng trước khi xả vào hồ Bàu Trảng, đặt mục tiêu kỹ thuật giảm nồng độ nitơ tổng số TN xuống dưới 5,35 mg/L (đạt chuẩn A2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT) và đưa pH về khoảng trung tính từ 7,0 đến 7,8 trong lộ trình 2020 - 2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng chủ trì.
  • Ứng dụng giải pháp công nghệ sinh học xử lý nước bằng bè thực vật thủy sinh kết hợp thả nuôi các chủng vi tảo bản địa có lợi như Scenedesmus quadricauda để hấp thụ dư lượng phosphat tại các phân đoạn sông Cẩm Lệ, kiểm soát hàm lượng PO43- dưới 0,3 mg/L trong vòng 18 tháng thực hiện.
  • Thiết lập hệ thống trạm quan trắc sinh học định kỳ 3 tháng/lần tại 10 thủy vực trọng điểm, chuẩn hóa quy trình sử dụng 15 loài Tảo mắt làm chỉ thị mức độ nhiễm bẩn hữu cơ do Trung tâm Quan trắc Môi trường thành phố triển khai từ quý 1/2021.
  • Khoanh vùng hành lang bảo vệ nguồn nước ngọt tại thượng nguồn sông Cu Đê và hồ Đồng Xanh - Đồng Nghệ, duy trì lượng oxy hòa tan DO ổn định trên 6,0 mg/L và hàm lượng TSS dưới 0,05 mg/L thông qua sự phối hợp liên ngành giữa Chi cục Thủy lợi và chính quyền địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà quản lý môi trường tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường: Khai thác bộ số liệu thực địa và mô hình tương quan PCA để tích hợp chỉ thị sinh vật phù du vào quy trình giám sát chất lượng nước mặt đô thị định kỳ.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Sinh thái học, Thủy sinh học, Khoa học Môi trường: Tiếp cận phương pháp luận thu thập mẫu chuẩn Juday 30 µm, kỹ thuật định danh 104 loài vi tảo và phương pháp phân tích thống kê đa biến CCA, Bray - Curtis.
  • Kỹ sư công nghệ môi trường và doanh nghiệp xử lý nước: Tham khảo các đặc tính sinh lý của các nhóm tảo bản địa nhằm phát triển mô hình hồ sinh học xử lý nước thải giàu dưỡng chất nitơ, phospho theo hướng kinh tế tuần hoàn.
  • Cơ sở nuôi trồng thủy sản nước ngọt: Sử dụng danh mục các loài tảo lục và luân tảo giàu protein (đạt 30% đến 60% trọng lượng khô) làm cơ sở tuyển chọn nguồn thức ăn tự nhiên chất lượng cao phục vụ ươm nuôi ấu trùng cá, giáp xác.

Câu hỏi thường gặp

Ngành Tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu bắt nguồn từ nguyên nhân nào? Ngành Tảo lục (Chlorophyta) chiếm 30,8% với 32 loài nhờ khả năng thích nghi sinh thái rộng trong môi trường nhiệt đới gió mùa tại Đà Nẵng. Nhiệt độ nước trung bình từ 19,56°C đến 26,1°C cùng bức xạ mặt trời dồi dào tạo điều kiện tối ưu cho các loài tản đơn bào và tập đoàn quang hợp mạnh mẽ.

Vì sao hồ Bàu Trảng lại có mật độ loài Tảo mắt cao vượt trội so với các thủy vực khác? Hồ Bàu Trảng tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt ô nhiễm qua kênh Phần Lăng khiến nitơ tổng số TN tăng vọt lên 18,039 mg/L và pH đạt 10,93. Môi trường giàu chất hữu cơ phân hủy hoại sinh này kích thích 13 loài Tảo mắt phát triển mạnh làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm.

Ngành Tảo silic thể hiện sự phân bố khác biệt như thế nào giữa sông và hồ? Tảo silic (Bacillariophyta) phân bố áp đảo ở thủy vực sông với 12 loài so với 2 loài ở hồ. Cấu trúc tế bào có vỏ oxit silic nặng đòi hỏi động lực dòng chảy liên tục để lơ lửng trong tầng chiếu sáng, đồng thời hấp thụ nguồn phosphat dồi dào từ 0,68 đến 0,77 mg/L tại các dòng sông.

Phân tích PCA mang lại giá trị gì cho việc đánh giá chất lượng nước trong luận văn? Mô hình PCA giúp cô đọng hàng loạt biến số hóa lý phức tạp thành 2 trục chính giải thích 76,3% tổng phương sai. Phân tích này xác định chính xác nitơ tổng số TN (trọng số 0,50) và oxy hòa tan DO (trọng số 0,47) là hai yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất đến hệ sinh thái thủy sinh.

Luận văn đóng góp gì cho ngành nuôi trồng thủy sản tại khu vực Đà Nẵng? Đề tài cung cấp danh mục các loài vi tảo giàu giá trị dinh dưỡng cao như Scenedesmus quadricauda và Spirulina platensis. Đây là nguồn thức ăn tự nhiên quan trọng giúp nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng thủy sản lên 60% đến 80% và hỗ trợ ổn định chất lượng môi trường ao nuôi.

Kết luận

  • Đã xác định được 104 loài tảo phù du thuộc 34 họ và 6 ngành phân loại tại 10 thủy vực nước ngọt ở thành phố Đà Nẵng.
  • Ngành Tảo lục (Chlorophyta) chiếm tỷ lệ đa dạng cao nhất với 30,8%, tiếp đến là Luân tảo (Charophyta) chiếm 27,9% và Tảo mắt (Euglenophyta) chiếm 14,4%.
  • Xác lập mối tương quan thuận giữa tần suất Tảo mắt với hàm lượng nitơ tổng số TN (đạt đỉnh 18,039 mg/L) và độ kiềm pH (10,93) tại các điểm ô nhiễm hữu cơ.
  • Chứng minh sự phân hóa sinh cảnh rõ rệt khi Tảo mắt chiếm ưu thế ở vùng nước đứng dạng hồ (66 loài) và Tảo silic ưu thế ở vùng nước chảy dạng sông (54 loài).
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu vi sinh vật học làm công cụ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc tài nguyên nước mặt.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện bức tranh toàn diện đầu tiên về đa dạng sinh học vi tảo nước ngọt và định lượng mối quan hệ giữa thực vật phù du với chất lượng môi trường nước tại Đà Nẵng. Trong giai đoạn 2020 - 2023, các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát động thái biến đổi quần xã theo chu kỳ 4 mùa và phân lập các chủng tảo tiềm năng phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học. Các cơ quan quản lý đô thị cần sớm ứng dụng hệ chỉ thị sinh học vi tảo này vào thực tế giám sát môi trường để bảo vệ bền vững các nguồn nước mặt địa phương.