Chương 1: Tổng quan tài liệu: Giới thiệu về vị trí của vi tảo trong hệ thống phân loại, đặc điểm chung của vi tảo, vai trò của tảo phù du, tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan: 20 trang, ~ Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chương này đề cập đến đối tượng nghiên cứu, thời gian, địa điểm và tóm tắt các phương pháp nghiên cứu sử dụng. trong quá trình thực hiện đề tài: 3 trang. ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Trình bày các kết quả đạt được sau quá trình nghiên cứu dé tài: 26 trang. ~ Kết luận và kiến nghị: 2 trang.
~ Tải liệu tham khảo: 6 trang. TONG QUAN TAL LIEU 1.Khái quát về Vi tảo là sinh vật sản xuất cơ sở đầu tiên trong hệ sinh thái thuỷ vực, là mắt xích đầu tiên mà nhờ đó năng lượng và vật chất của lưới thức ăn được hình thành, tích luỹ và chuyển đổi. Vi tảo có mặt hầu như trong tắt cả các thuỷ vực tự nhiên với nhiều chủng loại, từ dạng đơn bảo Euglena, Closterium, Coscinodiscus,. đến dạng tập đoàn dạng đám Microcystis, Merismopedia,.
dạng chuỗi Anabaena, Melosira, Skeletonema,. dạng sợi Oscillatoria, Lyngbya,. Chúng sống trôi nỗi hoặc bám vào các giá thể trong nước và rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường [1 I], [36]. Hệ thống phân loại vi tảo.
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có được một quan điểm thống nhất về hệ thống. phân loại tảo. Theo quan điểm chia sinh giới thành hai giới (giới thực vật và giới động vậu thì tảo thuộc giới thực vật, nhưng theo Copeland (1975) đã xếp tảo vào giới sinh vật phân cắt (Protista) cùng với nắm và động vật nguyên sinh. Theo hệ thống phân loại Š giới của R.
Whitaker (1969) thì chỉ có Tảo đỏ, Tảo nâu và một số Tảo lục là thuộc giới thực vật, còn các ngành khác thuộc giới sinh vật phân cắt (Protista) [23], [58] Theo Gordon, hệ thống 4 giới hay Š giới chỉ là hệ thống rút gọn, trên thực tế nếu theo. đúng nghĩa của giới thì phải chia sinh giới làm 19 giới, trong đó tảo chiếm 7 giới là giới Tảo Rhodophyta, giới Tảo Euglenophyta, giới Tảo Haptophyta, giới Tảo Cryptophyta, giới Tảo Dinophyta, giới Tảo Eusgmatophyta và giới Tảo Heterocontophyta gồm 4 ngành của nhóm sắc tố vàng nâu (Tảo vàng, Tảo vàng ánh, Tảo silie và Tảo nâu), ngành Tảo lục đưa vào giới Thực vật Nam 1836, Harvey đã dựa vào sự khác nhau về sắc tố dé chia tảo thành 4 nhóm: Tảo nâu, Tảo đỏ, Tảo lục và Tảo Silic. Từ hình dạng, màu sắc bên ngoài G. Smith (1933,1950) đã ghỉ nhận 11 nhóm tảo lớn, ông đã bỏ phạm trù Thallophyta va Tảo, ông đã nhóm thành 7 ngành: Chlorophyta, Euglenophyta, Chrysophyta, Phaeophyta, Pyrophyta, Cyanophyta và Rhodophyta.
Papenfuss (1946) đã chỉ ra việc sử dụng tên “Chlorophyta” cho Tảo lục là không hợp lý, do vậy ông đã để nghị tên cho các ngành tảo thêm -phyco trước -phyta. Các ngành tảo này được phân chia dựa vào cấu trúc tế bào, thành phần sắc tố, thành phần vách tế bào, các sản phâm dự trữ và có hoặc không có roi [23], [60]. Klein va Cronquis (1967) đã phân loại tảo dựa vào thành phần hóa học, cấu trúc và chức năng đã phân tảo thành 6 ngành, vi khuẩn lam được chuyên vào giới Vi khuân. Vanden Hoek (1980, 1994) dựa vào sắc tố, sản phẩm quang hợp, cấu trúc vách, cấu trúc roi, kiểu phân bảo có tơ, màng bọc của lục lạp, sự liên hệ với lưới nội chất đã chia thành 11 ngành.
Lee ER (1999) dựa vào tế bào nhân sơ hay nhân chuẩn, sản phâm dự trữ, kiểu phân chia tế bào đã chia tảo thành ngành Tảo lam (nhân 5 sơ), tảo có nhân chuẩn và không có lưới nội chất như: Tảo lục, Tảo đỏ, Glaucophyta, Dinophyta; nhóm tảo nhân thực có lưới nội chất như: Tảo mắt, Cryptophyta, Heterocontophyta, Haptophyta. Như vậy, tùy theo tác giả mà tảo được chia thành 6,7,8,9,10,11 hay 12 ngành. Mỗi ngành tảo đều có hình thái, cấu tạo đặc trưng khác nhau, từ các đặc điểm đặc trưng đó giúp con người nghiên cứu về cách nhận biết tảo, phân loại chính xác từ đơn vị ngành đến loài và dưới loài. Dựa trên mức độ cấu trúc cơ thể: don bao, đa bào ở dạng tập đoàn, sợi, ống và dựa vào đặc điểm cấu tạo tế bào như: vách tế bào, cấu trúc roi, chất nhây, hạt tạo bột, nhiễm sắc thê,.
để phân biệt các loài tảo. Hơn nữa, khi phân loại tảo, cần tìm hiểu kĩ về hình thức sinh sản, chu kì sống để có thể phân loại chính xác. s# Đặc điểm đặc trưng của một số ngành vi tảo ~_ Ngành Tảo giáp (Dinophyta): có 2 roi không giống nhau vẻ hình thái và động lực, hai roi hoạt động độc lập. Lớp Đinoplycae có hai roi nằm trong các rãnh, một roi hướng ra đầu sau nằm trong rãnh dọc, roi kia nằm trong rãnh ngang.
Khi phân loại cần chú ý tới các đặc điểm như: hình dạng, vị trí của vành đai, số lượng, cách sắp xếp các tắm trong vỏ, hình dạng các tắm vỏ để ừ đó lập được công thức tắm vỏ. 2 hình thức sinh sản là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính, một số loài sinh sản hữu tính có cả đẳng giao và dị giao, nhưng chủ yếu là đẳng giao [27], [30], [40] ~_ Ngành Tảo vàng ánh (Chrysophyta): Tảo vàng ánh phân bố chủ ở nước ngọt sạch có hậu mát mẻ hoặc lạnh. Hình thái đa dạng, có thể là amip, monat, dạng hạt, sống đơn độc hay hình thành tập đoàn dạng palmella, dạng sợi hay dạng cây. Dựa vào có roi hay không có roi và số lượng của chúng để phân loại.
Màu tảo thay đổi từ vàng kim, vàng xanh hay nâu xanh. Sản phẩm tạo thành ở Tảo vàng ánh không phải là tỉnh bột mà là leucosin. Một số loài không có thành tế bào, nhiều loài có thành tế bào và vỏ giáp. Thành tế bào và vỏ giáp là cellulose và pectin, có thể có thắm hay không.
Harold da chia tảo vàng ánh thành ba nhóm tương ứng với ba lớp: không có roi, có một roi và có hai roi. Hình thức sinh sản chính là sinh sản sinh dưỡng bằng cách phân chia tế bào hay sinh sản vô tính bằng động bào tử. Sinh sản hữu tính chỉ phát hiện ở một số loài là đẳng giao, hợp tử hình thành thường có dạng túi, vách túi nhiễm silic cứng.[56] ~ Ngành Tảo silie (Bacillariophyta): Tảo đơn bào dạng hạt sống đơn độc hay sống thành tập đoàn dạng palmella, dạng sợi, dạng chuỗi, dạng sao, dạng ống nhằy,. Kích thước tế bảo từ vài um đến Imm, tế bào có cấu trúc hai mảnh vỏ lắp vào nhau.
Tế bào có hình thước thẳng hoặc cong hình que, hình kim, mặt vỏ hình elip, hình thoi, hình trứng, hình trái xoan hoặc hình yên ngựa,. Khi phân loại cần dựa vào các đặc 6 điểm về hình dạng tế bảo, hoa văn trên mặt vỏ, cách sắp xếp đường vân có dạng đối xứng tỏa tròn (Bộ centrales) hay đối xứng hai bên (Bộ Pannales). Bên cạnh đó, cần chú ý tới đặc điểm của vùng trục, kẽ vỏ, đường hoa văn tạo thành do mặt ngoài hay mặt trong, vách tế bào lỗi lên lõm xuống sẽ làm cho độ chiết quang không đồng đều. dưới kính hiển vi.
Ở tảo silic, hình thức sinh sản cũng là một trong những đặc điểm phân loại, tảo silic sinh sản sinh dưỡng là chủ yếu, khi gặp điều kiện bắt lợi có t thành bảo tử nghỉ. Sinh sản hữu tinh là đẳng giao ở lớp Tao silic long chim va noan giao ở lớp Tảo silic trung tâm. Ngoài cấu trúc vách tế bào, thể màu, chất dự trữ và bao tử ngủ cũng là đặc điểm đặc trưng cho một số taxon [23], [50], [64] ~_ Ngành tảo mắt (Euglenophyta): Tảo mắt phân bố rộng trong nước mặn, nước lợ, nước ngọt, trên đất âm và bùn. Chúng thường gây nên hiện tượng nước nở hoa, đặc biệt ở nước giàu dinh dưỡng TẾ bao dang tran (Euglena) hoặc có vỏ giáp (Trachelomonas), thể màu có hình dạng khác nhau tùy loài, có thể nhỏ, hình đĩa, hình.
bản rộng với mép nguyên hay xẻ thùy, hoặc hình dải băng,. Có hoặc không có hạch tạo bột, độ dài, hình dạng roi, khả năng thay đổi hình dạng tế bào cũng là đặc điểm để phân loại các loài Tảo mắt [23], [56]. ~ Ngành Tảo lục (Chlorophyta): Đây là ngành lớn nhất của tảo, hiện đã phát hiện được 20. Tảo có màu xanh lục do diệp lục a, b chiếm ưu thế (trừ một số loài sống ở nơi âm có màu vàng do chứa nhiều dầu và hematocrom).
Roi của các tế bào vận động ở Tảo lục có độ dài bằng nhau và nhẫn, phân loại tảo lục dựa vào số lượng roi, vị trí gắn roi, tổ chức roi. Hình thái cơ thể có tất cả các dạng (trừ dạng amip) như monad, dạng hạt, tập đoàn, palmella, đa bảo dạng sợi, dạng ống, dạng cây. vào cầu trúc hình thái của tảo để tiến hành phân loại: tản kiểu đơn bào có roi = monad' (gặp ở Chiamydomonas), kiêu tập đoàn có roi (gp 6 Volvox, Gonium), kiéu tập đoàn Palmella,. Tảo lục phân bố rộng khắp từ nước ngọt nghèo dinh dưỡng đến nước lợ và nước biên, một số bộ chỉ sóng ở biển.
Phân loại tảo lục còn dựa vào khả năng chuyển. động, hình thức sinh sản, tế bào có vách hay không có vách [25], [44], [47] ~ Ngành Tảo lam (Cyanophyta): tế bào chứa chlorophyll a va phycocyanin- phycobiliprotein, một số loài có sắc tố đỏ phycoerythrin, chúng phối hợp với sắc tố lục tạo nên màu nâu. Màng tế bào liên kết với phycobilisom, cơ thể dạng đơn bào hoặc đa bào dạng sơi, không di động hoặc di động. Các tế bào dạng sợi có các trichom ngăn cách thắt eo hay không, đặc điểm, số lượng gai ở đầu tế bảo cũng rất quan trọng trong phân loại Tảo lam.
Tế bào phân nhánh thật hay phân nhánh giả, có tế bao dị hình (heterocytes) hay không, phân biệt rõ tế bào dị hình với tế bào sinh dưỡng và bào tử nghỉ. Bên cạnh đó, Tảo lam sinh sản theo hình thức hình thành bảo tử nghỉ, nội và ngoại bảo tử, tảo đoạn, hormospore, gonidi, coci, planococci, và đặc biệt ở Tảo lam hoàn toàn không có hình thức sinh sản hữu tính [23], [24]. Hình thái và cấu tạo tế bào của vi tảo Vi tảo có hình thái cơ thể rất đa dạng, có thé chia thành 8 kiểu hình thái như sau: 1) Kiểu monad: Tảo đơn bào, sống đơn độc hay thành tập đoàn, chuyển động nhờ. lông roi 2) Kiểu pamella: Tảo đơn bào, không có lông roi, cùng sống chung trong bọc chất keo thành tập đoàn dạng khối có hình dạng nhất định hoặc không.
Các tế bào trong tập đoàn không có liên hệ phụ thuộc nhau.