Tổng quan nghiên cứu

Trên quy mô toàn cầu, thế giới đã ghi nhận khoảng 9.586 loài chim, trong đó khu vực Đông Nam Á sở hữu hệ thống điểu học vô cùng phong phú. Riêng tại Việt Nam, số lượng loài liên tục được cập nhật từ 828 loài lên 887 loài, chiếm tới 34,3% tổng số loài chim của khu hệ phương Đông và tương đương 9,12% tổng số loài chim toàn cầu. Mặc dù vậy, tài nguyên chim hoang dã đang chịu sức ép nghiêm trọng từ các hoạt động nhân sinh; kể từ thế kỷ 17 đến nay đã có khoảng 120 đến 130 loài chim bị tuyệt chủng và hơn 1.200 loài trên thế giới đang đối mặt với các nguy cơ đe dọa sinh tồn. Tại Việt Nam, có 40 loài chim nằm trong Danh lục Đỏ IUCN và 74 loài được ghi tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

Khu bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà thuộc địa phận thành phố Đà Nẵng, nằm ở tọa độ 16°05'50" đến 16°09'06" vĩ độ Bắc và 108°12'45" đến 108°20'48" kinh độ Đông, sở hữu diện tích đất lâm nghiệp 4.189,7 ha với đỉnh cao nhất đạt 696 mét so với mực nước biển. Nơi đây là một hợp phần của Vùng sinh thái Trường Sơn – một trong 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu, đóng vai trò là "lá phổi xanh" và bức tường chắn gió bão bảo vệ đô thị Đà Nẵng. Mục tiêu then chốt của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học này là xác định toàn diện cấu trúc thành phần loài, quy luật phân bố của khu hệ chim theo 5 sinh cảnh chính, đồng thời đánh giá các áp lực nhân sinh nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn nguồn gen quý hiếm và định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững. Khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2014, mang lại bộ dữ liệu chuẩn mực gồm 104 loài chim định danh và ghi nhận mở rộng vùng phân bố cho nhiều loài có giá trị sinh thái đặc biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết Sinh thái học cảnh quan cùng thuyết Địa lý sinh vật đảo nhằm phân tích tác động của hiện tượng chia cắt sinh cảnh, hiệu ứng rìa và áp lực đô thị hóa đến khả năng thích ứng không gian của các quần xã chim. Song song với đó, nghiên cứu áp dụng nguyên lý Loài chỉ thị và loài che dù để đánh giá độ toàn vẹn của hệ sinh thái rừng mưa mùa nhiệt đới thông qua nhóm chim ăn thịt đầu chuỗi thức ăn thuộc bộ Cú và bộ Ưng.

Về mặt phân loại học, nghiên cứu chuẩn hóa danh lục theo hệ thống phân loại Sibley - Ahlquist - Monroe kết hợp với Danh lục chim thế giới của Clements năm 2007 và Danh lục chim Việt Nam năm 2011. Hiện trạng bảo tồn và mức độ nguy cấp của các loài được đối chiếu chặt chẽ dựa trên 3 khung pháp lý và quy chuẩn khoa học: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ IUCN năm 2014 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian gần 5 tháng với 32 ngày điều tra thực địa tập trung từ ngày 01/07/2014 đến 15/11/2014. Cỡ mẫu không gian được thiết lập gồm 9 tuyến khảo sát cố định có tổng chiều dài 26,5 km (mỗi tuyến dao động từ 3 km đến 8 km), phân bổ đại diện trên 5 dạng sinh cảnh: 5 tuyến đi qua rừng tự nhiên, 2 tuyến qua sinh cảnh rừng trồng và trảng cỏ, 2 tuyến chạy dọc bãi đá ven biển. Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 15 cư dân địa phương lâu năm, kết hợp khảo sát 3 cửa hàng kinh doanh chim cảnh lớn tại nội thành Đà Nẵng với 246 cá thể chim thương phẩm để phân tích chuỗi cung ứng.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật khảo sát theo tuyến dải kết hợp máy định vị toàn cầu GPS Garmin 62S, bắt đầu từ 5 giờ 30 phút sáng nhằm đón đầu khung giờ hoạt động kiếm ăn cao nhất của các loài chim. Nhằm ghi nhận các loài chim tầng thấp sống ẩn nấp trong bụi rậm, phương pháp bắt thả bằng lưới mờ chuyên dụng kích thước 12m x 2,8m (mắt lưới 1,5 x 1,5 cm do Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris cung cấp) được triển khai luân phiên. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích thống kê sinh học trên Microsoft Excel và các kỹ thuật quan sát thực địa đa kênh (chụp ảnh 57 loài, ghi âm tiếng hót 10 loài, phân tích mẫu lưới mờ 4 loài) là nhằm tối ưu hóa độ chính xác định danh, loại trừ sai số quan sát bằng mắt thường và lượng hóa cụ thể tần suất bắt gặp giữa các sinh cảnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp qua 32 ngày điều tra trên 26,5 km tuyến khảo sát, nghiên cứu đã xác định khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà có 104 loài thuộc 79 giống, 43 họ và 14 bộ. Đáng chú ý, luận văn đã ghi nhận bổ sung 41 loài mới cho danh lục khu bảo tồn so với các công bố trước đó. Luận văn phát hiện mở rộng vùng phân bố của loài Đại bàng biển bụng trắng (Haliaeetus leucogaster) đến vùng Trung Trung Bộ, đồng thời ghi nhận mới cho khu hệ chim Việt Nam loài Cu vằn (Geopelia striata) tại khu vực bãi cát Bãi Đá Đen vào tháng 10 năm 2014.

Về đặc điểm cư trú, chim định cư giữ vai trò nòng cốt với 80 loài (chiếm 76,9%), nhóm di cư gồm 30 loài (chiếm 28,8%), trong đó có 12 loài mang tính chất vừa định cư vừa di cư theo mùa. Cấu trúc phân loại học ghi nhận sự thống trị của bộ Sẻ (Passeriformes) với 24 họ (55,8%) và 58 loài (55,8%). Đứng sau bộ Sẻ là bộ Bồ câu với 8 loài (7,7%), bộ Ưng và bộ Sả cùng đạt 7 loài (6,7%), bộ Hạc có 6 loài (5,8%), trong khi có 4 bộ chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài (chiếm 1,0% mỗi bộ) gồm bộ Cắt, bộ Cú, bộ Cú muỗi và bộ Yến.

Về giá trị bảo tồn, nghiên cứu phát hiện 4 loài nguy cấp cần ưu tiên bảo vệ đặc biệt: loài Đuôi cụt bụng đỏ (Pitta nympha) được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU) trong cả Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 lẫn Danh lục Đỏ IUCN năm 2014; cùng 3 loài thuộc Nhóm IIB Nghị định 32/2006/NĐ-CP gồm Diều hoa Miến Điện (Spilornis cheela), Yểng (Gracula religiosa) và Chích chòe lửa (Copsychus malabaricus). Đáng lo ngại, loài Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) từng ghi nhận vào năm 1997 đã hoàn toàn vắng bóng trong các đợt khảo sát, báo hiệu nguy cơ tuyệt chủng cục bộ tại bán đảo.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa của khu hệ chim gắn liền mật thiết với độ che phủ và tầng tán thực vật. Khi biểu diễn phân bố qua biểu đồ tương quan giữa số lượng loài và tần suất bắt gặp, sinh cảnh rừng nguyên sinh thể hiện ưu thế vượt trội với 81 loài (chiếm 77,9%) và tần suất xuất hiện đạt 43,5% (259 lượt quan sát). Rừng thứ sinh đứng thứ hai với 56 loài (chiếm 53,8%) và 29,6% tần suất. Ngược lại, sinh cảnh bãi cát, bãi đá ven biển dù chỉ có 23 loài (22,1%) và tần suất 5,9% nhưng lại đóng vai trò sinh thái độc nhất khi là nơi kiếm ăn chuyên biệt của các loài chim ăn thịt bắt cá và chim nước.

Nguyên nhân dẫn đến suy giảm nguồn lợi điểu học được phản ánh rõ qua bảng thống kê các hoạt động nhân sinh tiêu cực. Nạn bẫy bắt chim diễn ra phổ biến với 14 loài bị khai thác thương mại, trong đó Chào mào chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,53% qua quan sát thực tế và 40,32% qua phỏng vấn (tương đương 200 cá thể). Hoạt động buôn bán chim cảnh diễn ra công khai tại các vùng đệm với mức giá từ vài chục nghìn đến hàng triệu đồng một cá thể đã thúc đẩy áp lực săn bắt. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng với 19 dự án du lịch được phê duyệt, hệ thống đường giao thông cắt xẻ sinh cảnh và khoảng 500 ha rừng bị xâm hại bởi loài dây leo Bìm bìm ngoại lai (Ipomoea eberhardii) đang làm suy thoái nghiêm trọng nơi cư trú của khu hệ chim.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn tính đa dạng loài và thiết lập mô hình phát triển sinh thái bền vững tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động trọng tâm:

  1. Triệt phá và ngăn chặn hoạt động bẫy bắt chim hoang dã: Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn phối hợp với lực lượng Cảnh sát môi trường duy trì tuần tra thực địa tối thiểu 4 lần mỗi tuần, đặt mục tiêu truy quét và tháo gỡ 100% các loại bẫy đặt dưới mặt đất, chấm dứt hoàn toàn tình trạng săn bẫy 14 loài chim cảnh trong giai đoạn 2015 đến 2018.
  2. Quy hoạch phân khu và kiểm soát tải lượng du lịch: Ban Quản lý Khu bảo tồn phối hợp Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng tiến hành rà soát 19 dự án du lịch nghỉ dưỡng, giữ nguyên trạng 2.806,7 ha rừng tự nhiên thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, khống chế lượng khách tham quan theo sức chứa sinh thái và hạn chế triệt để nguồn sáng nhân tạo công suất lớn gây nhiễu loạn luồng chim di cư ban đêm trước năm 2020.
  3. Phục hồi sinh cảnh và kiểm soát thực vật xâm lấn: Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng đề án khoanh nuôi xử lý dứt điểm 500 ha rừng bị dây leo Bìm bìm xâm lấn, đồng thời thiết lập các cầu dẫn sinh thái tán rừng qua các tuyến đường ô tô để giảm thiểu tác động chia cắt quần thể chim trong giai đoạn 2016 đến 2019.
  4. Phát triển du lịch xem chim chuyên đề và nâng cao nhận thức: Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng chủ trì xây dựng 3 tuyến tour quan sát chim (bird-watching) chuyên nghiệp trên các tuyến khảo sát tự nhiên, gắn lợi ích sinh kế của 100% hộ dân nhận khoán đất rừng phường Thọ Quang với hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học trong giai đoạn 2015 đến 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và cơ sở dữ liệu chuyên sâu của công trình luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý kiểm lâm và ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng bản đồ 9 tuyến khảo sát và danh lục 104 loài chim làm hồ sơ cơ sở để xây dựng phương án tuần tra, giám sát định kỳ các loài nguy cấp như Đuôi cụt bụng đỏ và ngăn chặn các điểm nóng săn bẫy động vật hoang dã.
  2. Nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Sinh thái học, Điểu học: Khai thác dữ liệu định danh hình thái, chỉ số cấu trúc 14 bộ chim và quy trình phối hợp giữa phương pháp tuyến dải với lưới mờ làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu so sánh về biến động khu hệ chim dải ven biển miền Trung.
  3. Chuyên gia quy hoạch đô thị và doanh nghiệp du lịch sinh thái: Tham khảo đánh giá tác động cảnh quan và ngưỡng sức tải sinh thái để thiết kế các công trình kiến trúc hài hòa, xây dựng sản phẩm du lịch xem chim cao cấp hạn chế xâm hại môi trường tự nhiên.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn đa dạng sinh học: Ứng dụng số liệu điều tra chuỗi cung ứng 246 cá thể chim cảnh và thực trạng tuyệt chủng cục bộ của loài Gà tiền mặt đỏ để xây dựng các chiến dịch truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà có bao nhiêu loài và cấu trúc phân loại ra sao? Nghiên cứu đã xác định tổng cộng 104 loài chim thuộc 79 giống, 43 họ và 14 bộ. Trong đó, bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm tỷ lệ đa dạng lớn nhất với 24 họ (chiếm 55,8%) và 58 loài (chiếm 55,8%), phản ánh nét đặc trưng phong phú của khu hệ chim rừng mưa nhiệt đới ven biển.

Luận văn đã ghi nhận những phát hiện mới nào về vùng phân bố của các loài chim tại Việt Nam? Nghiên cứu đã ghi nhận mở rộng vùng phân bố của loài Đại bàng biển bụng trắng (Haliaeetus leucogaster) đến vùng Trung Trung Bộ, đồng thời phát hiện lần đầu tiên tại Việt Nam loài Cu vằn (Geopelia striata) tại sinh cảnh bãi biển Bãi Đá Đen vào tháng 10 năm 2014.

Những loài chim quý hiếm nào tại Sơn Trà đang cần được ưu tiên bảo tồn khẩn cấp? Có 4 loài nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn gồm Đuôi cụt bụng đỏ (Pitta nympha) thuộc bậc Sắp nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN, cùng 3 loài thuộc Nhóm IIB Nghị định 32/2006/NĐ-CP là Diều hoa Miến Điện, Yểng và Chích chòe lửa.

Sinh cảnh nào tại Sơn Trà ghi nhận số lượng và tần suất bắt gặp các loài chim cao nhất? Sinh cảnh rừng nguyên sinh ghi nhận độ phong phú cao nhất với 81 loài (chiếm 77,9% tổng số loài) và tần suất xuất hiện đạt 43,5% trên tổng số 259 lượt quan sát, nhờ cấu trúc thảm thực vật đa tầng cùng nguồn thức ăn quả rừng dồi dào.

Những nguyên nhân chính nào đang đe dọa trực tiếp đến tính đa dạng của khu hệ chim Sơn Trà? Hai mối đe dọa lớn nhất là nạn bẫy bắt 14 loài chim cảnh thương phẩm (điển hình là Chào mào chiếm 40,32% số cá thể bị bẫy) và tình trạng suy thoái, phân mảnh sinh cảnh do 19 dự án du lịch cùng 500 ha rừng bị dây leo Bìm bìm xâm lấn.

Kết luận

  • Luận văn đã định danh chính xác 104 loài chim thuộc 79 giống, 43 họ và 14 bộ, bổ sung 41 loài mới cho danh lục Sơn Trà và 1 loài mới cho khu hệ chim Việt Nam.
  • Xác lập tỷ lệ cư trú gồm 80 loài định cư (76,9%), 30 loài di cư (28,8%) và chứng minh sinh cảnh rừng nguyên sinh sở hữu độ phong phú cao nhất với 81 loài (77,9%).
  • Nhận diện 4 loài nguy cấp ưu tiên bảo tồn (Đuôi cụt bụng đỏ, Diều hoa Miến Điện, Yểng, Chích chòe lửa) và cảnh báo nguy cơ tuyệt chủng cục bộ của loài Gà tiền mặt đỏ.
  • Lượng hóa các áp lực nhân sinh tiêu cực từ hoạt động bẫy bắt 14 loài chim cảnh, chia cắt sinh cảnh do hạ tầng du lịch và 500 ha rừng bị dây Bìm bìm xâm hại.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ về kiểm lâm, quy hoạch sức chứa sinh thái và phát triển du lịch xem chim chuyên đề giai đoạn 2015 đến 2020.

Trong lộ trình giai đoạn 2016 đến 2020, các cấp quản lý và tổ chức nghiên cứu cần đẩy mạnh mạng lưới giám sát sinh thái dài hạn để bảo vệ toàn diện nguồn gen chim quý. Hãy chung tay hành động ngay hôm nay nhằm bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên và bảo vệ không gian sinh tồn của các loài chim tại bán đảo Sơn Trà.