Chương 1: Tổng quan (12 Trang) Chương 2: Thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu (6 Trang) Chương 3: Kết quả và thảo luận (33 Trang) Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Một số kh: m liên quan Các khái niệm về loài ngoại lai đã được quy định tại Luật đa dạng sinh học năm 2008 như sau [14] Loài ngoại lai là sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lắn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mắt cân bằng hệ sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Loài bản địa là loài xuất phát từ quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên trong vùng.
Ngược lại, loài xâm lắn hay loài xâm hại là những loài có khả năng bành trướng, át và trong nhiều trường hợp loại trừ các loài sinh vật bản địa trên khu vực chiếm. cứ của chúng. Ngoài ra, theo Công ước Đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng. đỉnh Trái Đất năm 1992 tại Rio de Janeiro (Việt Nam tham gia theo quyết định 279/ QĐ- CTN của Chủ tịch nước ngày 17 tháng 10 năm 1994 về việc phê chuân Công ước Da dang sinh hoc) thi sinh vật ngoại lai được định nghĩa như sau: Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn được đưa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bắt kỳ của sinh vật như các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chéi mầm của những loài này có.
thể sống sót và sau đó sinh sản được. Sinh vật ngoại lai xâm hại là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập được quản thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trường. Theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNP ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [3], quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại, trong đó: ~ Loài ngoại lai xâm hại đáp ứng một trong các tiêu chí sau: + Đã tự thiết lập quần thê trong tự nhiên, đang lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn và gây hại đối với các sinh vật bản địa, có khả năng phát tán mạnh, có xu hướng hoặc đang gây mắt cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện ở Việt Nam. + Qua khảo nghiệm, thử nghiệm thể hiện có xâm hại.
~ Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại: + Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại đã xuất hiện ở Việt Nam đáp ứng một trong các tiêu chí sau: chưa tự thiết lập được quần thể trong tự nhiên, có xu hướng lắn chiếm 4 nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn, gây hại đối với loài bản địa hoặc qua khảo nghiệm thử nghiệm, điều tra, đánh giá thấy biểu hiện nguy cơ xâm hại. + Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chưa xuất hiện ở Việt Nam đáp ứng các tiêu chí sau: loài chưa du nhập vào Việt Nam, đã được ghi nhận xâm hại từ hai quốc gia trở lên có điều kiện sinh thái tương tự với Việt Nam. Tình hình nghiên cứu TV NLXH trên thế giới 1. Những yếu tố thành công của loài xâm lắn Sự xâm lấn gồm có 3 giai đoạn là pha nhập nội, pha phát tán mở rộng phạm vi phân bố và cuối cùng là pha trưởng thành khi phạm vi phân bồ không mở rộng thêm.
Nếu một trong các giai đoạn này không hoàn tắt thì sự xâm lắn sẽ thất bại. Khả năng xâm lấn tùy thuộc vào nhiều yếu tố tương tác với nhau, các yếu tố này ảnh hưởng khác nhau đối với từng loài. Các yếu tố giúp cho loài xâm lẫn thành công được xếp thành 2 nhóm: điều kiện môi trường và khả năng của chính loài xâm lắn. Sự kết hợp của các yếu tố môi trường và sinh học cá thể tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và tăng trưởng ban đầu của các loài xâm lắn trong môi trường mới.
Những nét tương đồng về khí hậu và thổ nhưỡng giữa các môi trường sống của các loài ngoại lai và môi trường sống là yếu tố quan trọng. Vùng nhiệt đới âm Châu Á và Châu Phi với đất rửa trôi tương tự như ở My La Tỉnh cho phép các loài Bông ôi (Lamtana camara L.) và Mikania micrantha Kunth xâm nhập và xâm chiếm các vị trí thích hợp trên hai châu lục này. Loài Luc binh (Eichhornia crassipes), mot loài bản dia có nguồn gốc từ Mỹ La Tỉnh đã lây lan rộng rãi vào các khu vực cận nhiệt đới của Mỹ, Bồ Đào Nha, khu vực nhiệt đới của Châu Úc, Châu Phi, Châu Á, bất cứ nơi nào điều kiện khí hậu phủ hợp với nơi bản xứ. Ngoài các điều kiện môi trường, một số đặc điểm sinh học của bản thân loài ngoại lai có thể giúp chúng trở thành loài xâm lắn như: Có khả năng tăng trưởng và sinh sản nhanh chóng nhờ sử dụng hiệu quả chất dinh dưỡng ở nơi ở mới, có khả năng lan rộng rất nhanh để ổn định quan thé, có thé sinh sản sinh dưỡng từ gốc hoặc thân bị chặt, có biên độ sinh thái rộng với nhiều yếu tố môi trường và có khả năng tạo ra độc tố giúp lấn at loài bản địa.
Bìm bìm hoa vàng (Mezremia boisiana) đã được công bố tại Hội nghị khoa học cây cỏ tại Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 23 tai Sebel Cairns 26 — 29/9/2011 như. một loài xâm lắn nguy hại tại miền Nam Trung Quốc, một vài nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân lây lan của nó. Loài này đặc trưng là tăng trưởng nhanh, khả năng quang hợp và canh tranh cao, có khả năng phản kháng mạnh mẽ dưới áp lực môi trường và do đó nó cho thấy khả năng thích nghỉ sinh thái rộng và có khả năng cạnh tranh, chiếm ưu thế so với các loài bản địa. Ví dụ: Chiết xuất của Bìm bìm hoa vàng có thể hạn chế sự nảy mầm của cây Cải thảo (Brassica parachunensis), với nồng độ càng cao thì sự kiềm chế càng mạnh [27], Nghiên cứu khả năng quang hợp của loài này bằng kỹ thuật trao đổi khí cho thấy điểm bão hòa ánh sáng và tốc độ quang hợp tối đa của Bìm bìm hoa vàng cao hơn so với các loại xâm lan khac nhu cay San day (Pueraria lobata) va Cac leo (Mikania micrantha) [23], Ngoai ra, nhiệt độ tăng sẽ đẫn đến việc tăng sinh.
khối và năng suất của Bim bìm hoa vàng, kết quả làm cây phát triển nhanh và lan rộng. Do đó khi đưa ra dự đoán cùng với Biến đổi khí hậu, thi các vấn đề gây ra bởi loài này. sẽ ngày càng tăng trong tương lai gần [2§]| 1. Đa dạng sinh học các loài TV XLXH trên thế giới Dựa vào mức độ nghiêm trọng của hậu quả do sinh vật ngoại lai xâm hại đã gây ra, người ta đã đưa ra một danh sách gồm 100 loài sinh vật ngoại lai xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng trên toàn thế giới.
Trong danh sách này gồm 8 loài vi sinh vật, 4 loài thực vật thủy sinh, 32 loài thực vật ở trên cạn, 9 loài động vật không xương sống ở nước, 17 loài động vật không xương sống ở trên cạn, 3 loài lưỡng cư, 8 loài cá, 3 loài chim, 2 loài bỏ sát và 14 loài thú [6]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sinh vật ngoại lai. Theo báo cáo của World Bank (2007) 106 quốc gia có Vườn quốc gia đã được ghi nhận là có các loài thực vật ngoại lai xâm hại, trong đó có 326 loài NLXH được xác định là vấn đề lớn đối với các khu bảo tồn. TV NLXH xuất hiện ở nhiều khu vực trên thế giới, tuy nhiên các khu vực Châu A, Chau Phi, Nam và Trung Mỹ (bao gồm Mexico và Caribe) có số lượng loài và diện tích phân bố lớn hơn so với các khu vực khác.
Tại Hoa Kỳ và Canada đã ghỉ nhận có khoảng 2.100 loài TV NLXH. Nhiều loài trong tổng số 5.000 loài thực vật ngoại lai hiện đang bắt gặp trong các hệ sinh thái tự nhiên ở Hoa Kỳ là những loài được du nhập để làm thức ăn, lấy sợi hoặc làm cây cảnh. Trong số đó, có rất nhiều loài có giá trị lớn đối với ngành nông nghiệp, chỉ một số ít đã trở thành loài xâm hại và đe dọa các hệ sinh thái [6] Hầu như tắt cả các quốc gia ở Châu Phi đều bị ảnh hưởng bởi các sinh vật ngoại lai xâm hại. Theo Borokini, có 25 loài TV NLXH đã ghi nhận được ở Nigeria.
Ở Uganda ghi nhận được hơn 20 loài TV NLXH. Đối với Cộng hòa Nam Phi, IUCN (2004) đã xác định được 81 loài sinh vật ngoại lai nhưng một nghiên cứu khác cho. rằng quốc gia này ít nhất có 161 loài TV NLXH bắt gặp trong các hệ sinh thái tự nhiên. và bán tự nhiên [6].
Ngoài ra, theo một nghiên cứu của Van Wilgen (2004), có khoảng 750 loài thực vật thân gỗ và gần 8.000 loài cây bụi, cây quả mọng nước và cây thân thảo được ghi nhận đã du nhập vào Nam Phi. Trong số các loài này, có tới 161 loài thực vật ngoại lai xâm hại, trong đó có 110 loài (chiếm 68% các loài xâm hại) thuộc nhóm thực vật thân gỗ. Tông diện tích các loài thực vật thân gỗ bị ngoại lai xâm hại ở Nam Phi là hơn 100. Tai Sri Lanka sau 6 năm nghiên cứu đã ghi nhận có 39 loài TV NLXH đã phát tán trong các hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên.
Có 13 loài thực vật có trong danh sách 100 loài sinh vật ngoại lai gây hại nghiêm trọng trên thế giới. Những nghiên cứu khác ciing da ghi nhan được 30 loài TV NLXH ở Sri Lanka. Trong đó, có 15 loài thực vật ngoại lai xuất hiện ở khu bảo tồn động vật hoang dã Mihintale [6] New Zeland là nơi có số loài sinh vật ngoại lai lớn hơn số loài bản địa. Tính cả đất nước New Zeland chỉ có 1.200 loài là loài bản địa, trong khi đó loài ngoại lai đã lên tới 1.700 loài Tại Nigeria, kết quả nghiên cứu của Borokini chỉ ra rằng có 25 loài thực vật ngoại lai xâm hại đã ghi nhận được ở Nigeria.
Ở Uganda ghi nhận được hơn 20 loài thực vật ngoại lai xâm hại [25].