CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1. TINH HINH NGHIEN CUU THAN MEM (MOLLUSCA) TREN THE GIỚI 'Từ giữa thế ki XTX, những nghiên cứu về động vật giáp xác nhỏ trong nước được bắt đầu các hồ ở Đức của Muller (1845) và của Eransmus ở Thụy Sÿ. Sau đó sự phát triển thủy sinh học nước ngọt đã được thúc đầy bởi sự phát minh ra các thiết bị nghiên cứu như lưới vớt các loài sinh vật phù du ở hd, gầu thu mẫu sinh vật đáy. tạo điều kiện để chuyển sang nghiên cứu định lượng.
‘Theo Kohler Erank và cộng sự (2012), các nghiên cứu và phân loại trai sông Đông Nam Á được bắt đầu với công trình của Lea (1836, 1838, 1852, 1870) và sau đó được tiếp tục bởi Simpson (1900, 1914), Has (1910 - 1920, 1924) [58] “Theo các công th cia Yule va Yong (2004) trong giai đoạn này đã thống kê được hơn 150 loài Chân bụng (Gastropoda) và Hai mảnh vỏ (Bivalvia), trong đó có 6 bộ và 20 giống Gastropoda; Š bộ và 12 giống Bivalvia. Riéng lép Bivalvia trén thế giới, Bogan (2008) đã xác định có ít nhất 19 họ thuộc 3 phân lớp Bivalkia sống ở nước ngọt. Riêng bộ Unionoformnes có 6 họ, 180 giống và 800 loài sống trong môi trường nước ngọt [32], [46]. 'Về thân mềm nước ngọt, các khóa phân loại đã được bé sung và hoàn chỉnh bởi các công trình của Modell (1942, 1949, 1964), Has (1969), Starobogatov (1970).
Và gần đây là khóa phân loại về động vật Hai mảnh vỏ và mỗi quan hệ của nhóm động vật này được nghiên cứu bởi Bieler (2010), Carter và công sự (201 1). Động vật Hai mảnh vỏ nước ngọt của khu vực Indo - Burma duge Kabler F. Nghiên cứu về dda dang động vật Hai mảnh võ nước ngọt được Danicl L. Graf(2013) thống kể rên thể giới có 21 họ trong đó chỉ có 16 họ thực sự sống và sinh sản ở nước.
Trong số 1209 loài trai sông, 1178 loài nước ngọt (97%) thuộc § họ: Unionidae, Margaritiferidae, Hyriidae, Mycetopodidae, Iridinidae và Etheriidae, Sphaeriidae và Cyrenidae, 31 loài còn lại đại diện cho động vật Hai mảnh vỏ sống ở nước lợ I3 'Bên cạnh hướng nghiên cứu về thành phần loài, phân loại thân mễm nước ngọt, các nhà khoa học còn nghiên cứu động vật thân mềm nhằm đánh giá chất lượng môi trường nước. Vào cuỗi thể kỉ XX, hướng nghiên cứu là các vẫn đề về cân bằng vật chất và năng lượng trong các thủy vực, nang si ih học sơ cấp, thứ cấp tại các thủy vực nước ngọt và mỡ rộng ra hướng tiếp cặn với các vẫn đề sô nhiễm thủy vuc do các tác động tiêu cực của sự phát triển công nghiệp, din cư trên thể giới, gây nên tình trạng suy thoái môi trường, tải nguyên. Vấn đề đặt ra là: đánh giá, dự báo tình trạng ô nhiễm, hệ quả sinh thái, các giải pháp tái tạo và phục hồi môi trường nước, sử dụng các tác nhân sinh học bên cạnh tác nhân khác [23] Những năm 80 của thé ky XX, c6 nhiều công trình nghiên cứu sử dụng. I Hai mảnh vô nước ngọt để quan trắc ô nhiễm kim loại nặng ở vùng nước ngọt.
Tại Pháp, có nghiên cứu về khả năng tich lay Cd va Zn của loài Hến nước ngọt (Corbicula /lunines) và loài Trai vin (Dreisena polymorpha), cho thiy loài Trai vẫn có khả năng tích lũy Cả và Zn cao hơn so với Hến Một trong những hướng nghiên cứu khác về động vật không xương sống nước ngọt là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố môi trường với các quần xã động vật không xương sống ở nước. Phần mềm xử lý số liệu được sử dụng nhằm xác định cấu trúc, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã sinh vật với yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, thành phin vat chit ting đầy. Maitland (1978) đã phân tích sự khác biệt giữa các thủy vực nước đứng và nước chảy và đưa ra những đặc trưng lý học, hóa học và sinh học như dòng chảy, khí hòa tan, các sinh cảnh và vi sinh cảnh. Tác giả cho rằng dòng chảy là một yếu tổ quan trọng của các thủy vực nước chảy và đã chỉ ra tốc độ cực đại nằm ở lớp nước có độ sâu 1/3 tinh từ bề mặt [40].
Paukert và cộng sự (2003) đã chỉ ra mồi tương quan chặt chế giữa lớp phủ thực vật và một số chỉ môi trường với cấu trúc thành. phần loài động vật không xương sống trong 30 hồ được nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng mức độ phong phú của Gastropoda có tương quan chặt chẽ đến các loài thực vật thủy sinh [41]. Hunt và công sự (2003) nghiên cứu sự tương quan giữa sắc yếu tổ môi trường và ĐVKXS ở nước của 16 suỗi tai Oklahoma (Mj), két quả đã cho thấy 3 yêu tổ là độ cao, DO và kích thước vật chất tạo nền đầy có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phong phú va eau trúc thành phần loài ĐVKXS [52] Kết quả nghiên cứu của Lonergan và Rasmussen (1996) đã chỉ ra sự suy.
giảm số lượng cũng như thành phần loài chân bung có liên quan chất chế đến sự suy giảm pH của môi trường [39] Như vậy các nghiên cứu thân mềm và cÍ tập trung nghiên cứu về thành phần loài, phân loại học và đặc điểm phân bổ, sinh thấi học của loài, mi tương quan với môi trường nhằm mục đích cung cấp dẫn liệu khoa học, làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, bảo tồn và phát triển bền vũng DVIKXS trong đó có thân mềm, chân bụng nước ngọt 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÂN MÈM (MOLLUCSCA) 6 VIET NAM Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt được bắt đầu từ ccudi thé ki XIX véi cng trinh nghiên cứu về ốc nước ngọt của Crosse va Fisher (1863). Nghiên cứu về trai và ố theo Đặng Ngọc Thanh và Hỗ Thanh Hải (2007), trong thời kì trước năm 194$ các công trình nghiên cứu của Crosse vii Fisher (1863), Fisher (1891), Fisher va Dautzenberg (1904), Dautzenberg và Eisher (1905- 1908) là những tài liệu rất cơ bản về trai ốc nước ngọt Việt Nam [24] “Các nghiên cứu về khu hệ ĐVKXS nói chung và các nghiên cứu về thân mềm vả chân bụng nước ngọt nói riêng ở Việt Nam trong thời ky sau 1954 và nhất là trong thời gian gần đây được đẩy mạnh. Đội ngũ các nhà khoa học ngày cảng tăng lên và các lĩnh vực nghiên cứu cũng được mở rộng: Phân loại học, đặc điểm sinh học, sinh thái.
Đồng thời, việc thành lập nhiều cơ sở nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt đã bước sang thời ky nghiên cứu mở rộng và hiện dại. Các kết quả nghiên cứu về trai Ốc nước ngọt ở Việt Nam từ trước 1970 đã được Đăng Ngọc Thanh và công sự (1980) tổng hợp, tu chỉnh về phân loại học và công bé trong công trình “Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam”. Theo đó, có -47 loài ốc nước ngọt thuộc 14 họ và S2 loài trai thuộc 6 họ được ghi nhân miền Bắc Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ đã được công bổ cho tới thời điểm 6 vé trai ốc nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam [22] Đặng Ngọc Thanh và công sự (2000, 2003, 2004, 2006, 2007, 2008, 2010, 2011), Kohler và công sự (2009) p tue nghị cứu về thân.
chin bung nước ngọt sau này{35]. Tập hợp các công trình nghiên cứu từ trước nm 2015, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải đã mé tả 92 loi trai ốc nước ngọt của + Nam. Đây sẽ là t gu mang tính tổng hợp nhất về tr, Ốc nước ngọt nội địa từ trước dến nay của Việt Nam. Qua nghiên cứu này đã thống kê danh sách các loài trai ốc nước "gọt Việt Nam gồm 138 loài thuộc 63 giống, 21 họ với số loài có xu hướng giảm nhưng số giống lại tăng lên so với những công bố trước đó.
Trong công trình này đã bổ sung loài mới so với trước đây là loài hễn Pobnesod, tu chỉnh lại về phân loại học họ ốc nhỗi Ampullaridae và ốc văn Viniparidac. Các ác gi trên cũng thu mẫu bổ sung ở Tây Bắc, Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên [26] Hướng nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tổ sinh thái lên ĐVKXS ở nước cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu: Nguyễn Xuân Quýnh (1985) nghiên cứu về sông Tô Lịch đã kết luận tình trạng ô nhiễm của sông Tô Lịch ảnh hưởng đến sự phân bố của ĐVKXS. Những khu vực nhà máy thải nước thải ra nhiều thì số lượng loài sẽ thấp hơn ở những khu vực không có chất thải của nhà máy thái ra, có thành phần môi trường có phần tốt hơn [15]. Theo Đỗ Văn Tứ và Hoàng Thị Thanh Nhân (2013) đã phân tích, đánh giá và đưa ra một số nhận định về tình trạng bảo tồn các loài trai nước ngọt (Bô Unionoida) ở Việt Nam, theo nghiên cứu có khoảng.
50% số loài bị đe dọa, trai nước ngọt Việt Nam sẽ trở thành nhóm loài thân mềm ước ngọt bị đe dọa cao nhất [0], [31] Ở khu vực Tây Nguyên, nghiên cứu gần đây nhất của Lê Hùng Anh và cộng sự (2013) về da dạng ĐVKXS cỡ lớn và các loài có nguy cơ bi de dọa. Các tác giá đã xác định được ở Tây Nguyên có 60 loài động vật đáy với 43 loài trai ốc, trong đó có 5 loài được coi là đặc hữu ở Việt Nam đồng thời xác định nguy cơ đe đọa làm suy giảm quần thể và thu hẹp vùng phân bố thủy sinh vật [1] © khu vực miễn Trung, theo khảo sát, đánh giá da dạng và tai nguyên sinh vật các thủy vực nước ngọt nội địa tỉnh Thừa Thiên Huế của Hoàng Thị Bình Minh và công sự (2011), xác định có 51 loài động vật đáy phân bổ trong các (hủy vực nước ngọt tại khu vực nghiên cứu. Số lượng loài ở sông, hồ chứa vào mùa mưa cao hơn mùa khô và mật độ cao nhất thuộc nhóm chân bụng [13]. Theo nghiên cứu của Phan Thị Anh Đào và cộng sự nghiên cứu hiện trạng (hủy sinh vật ở một ố nhánh sông.
“Cầu đã thống kế trong số 20 l đồng vật đấy, nhóm ốc có số loài nhiễu nhất là 7 \ nhóm ti, hến có số loài đứng thứ 2 với 6 loài. Nghiên cứu cũng nhân định rằng, nhóm hến Corbicula tập trung nhiều ở khu vực có nền đáy bùn cát dọc sông “Cầu và khá nhạy cảm với biến đổi của môi trường, đặc biệt số lượng loài suy giảm khi môi trường bị ô nhiễm [6].