mở đầu cho việc nghiên cứu về thân mềm. Sau đó là các nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài khác như Brot (1887), Fisher (1891), Morlet (1875, 1887, 1893), Dautzenberg and Fischer (1905, 1906, 1908). Pavie (1904) đã công bố các kết quả nghiên cứu về thành phần loài trai, ốc, tôm, cua nước ngọt lưu vực sông Mêkông giai đoạn cuối thế kỷ XIX [8] Thời kỳ sau 1954: ác nghiên cứu về khu hệ ĐVKXS nói chung và các nghiên cứu về thân mềm nước ngọt nói riêng ở Việt Nam trong thời kỳ này đã có sự phát triển rõ rệt. Đặc biệt có rất nhiều công trình nghiên cứu là do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện.
Đồng thời, việc thành lập nhiều cơ sở nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt đã bước sang thời kỳ nghiên cứu mở rộng. và hiện đại. Các kết quả nghiên cứu về trai ốc nước ngọt ở Việt Nam từ trước 1970 đã được Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) tổng hợp, tu chỉnh về phân loại học và công bố trong công trình “Định loại động vật không xương. sống nước ngọt Bắc Việt Nam”.
Theo đó, có 47 loài ốc nước ngọt thuộc 14 họ và 52 loài trai thuộc 6 họ được ghi nhận miền Bắc Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ đã được công bồ cho tới thời điểm đó về trai ốc nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam. Các nghiên cứu về thân mềm nước ngọt được tiếp tục sau này bởi Đặng, Ngọc Thanh và cộng sự (2000, 2003, 2004, 2006, 2007, 2008, 2010, 201 1), Köhler và cộng sự (2009),. Theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2004) đã thống kê danh sách các loài trai ốc nước ngọt Việt Nam gồm 138 loài thuộc 63 giống, 21 họ.
Trong công trình này đã bổ sung loài mới so với trước đây là loài hến Pojymesoda, tu chỉnh lại về phân loại học họ ốc nhồi Ampullariidae và ốc vặn Viviparidae [26]. Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thanh Hải và Đặng Ngọc Thanh (2005) về các thủy vực nội địa ở Đồng Bằng sông Cửu Long xác định được 62 loài trai ốc nước ngọt. Sự sai khác về điều kiện khí hậu, thủy văn giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam đã tạo nên đặc trưng phân bố Bắc Nam của khu hệ thủy sinh vật các thủy vực nội địa Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều loài trai ốc đặc hữu cho Việt Nam ở phía Nam khác hẵn thành phần đặc hữu ở vùng phía Bắc, thể hiện tính đa dạng cao của hệ trai ốc nước ngọt Việt Nam [7].
Đến năm 2007, Hồ Thanh Hải đã xác định được 30 loài giáp xác, thân mềm của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Trong đó, đặc biệt đã phát hiện 3 loài mới cho khu hệ thủy sinh Việt Nam [6]. Năm 2008, Hỗ Thị Anh Đào và cộng sự nghiên cứu hiện trạng thủy sinh vật ở một số nhánh sông Cầu đã thống kê trong số 20 loài ĐVĐ, nhóm ốc có số loài nhiều nhất là 7 loài; nhóm trai, hến có số loài đứng thứ 2 với 6 loài. Nghiên cứu cũng nhận định rằng, nhóm hến Corbicula tập trung nhiều ở khu vực có nền đáy bùn cát dọc sông Cầu và khá nhạy cảm với biến đổi của môi trường, đặc biệt số lượng loài suy giảm khi môi trường bị ô nhiễm [5].
trình của Võ Văn Phú và một số tác giả khác (2009) nghiên cứu về thành phần loài ĐVKXS ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã xác định trong số 28 loài DVD nganh thân mềm có số loài cao nhất với 17 loài thuộc § họ. Nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và cộng sự (2010) đã ghi nhận ngành thân mềm có 27 loài thuộc 20 giống, 3 họ và bổ sung 9 loài mới gồm 6 loài động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) và 3 loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) cho danh lục thành phần loài ĐVĐ ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai,Thừa Thiên Huế [14], [15] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Ngọc Khắc (2010), nghiên cứu về giáp xác lớn và thân mềm ở sông Hồng (từ Phú Thọ đến Ba Lạt) đã xác định được 248 loài giáp xác lớn, thân mềm ở khu vực này. Trong đó, bổ sung 53 loài ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu, 38 loài cho khu vực miền Bắc và 26 loài lần đầu được ghi nhận ở Việt Nam. Tác giả phân tích đặc trưng phân bó, biến động số lượng, đánh giá nguồn lợi sinh vật và những yếu tố tác động tới nguồn lợi nay [8].
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Đình Trung (2012) về thành phan DVD & hạ lưu sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị đã xác định 20 loài thân mềm thuộc 14 giống, 2 lớp. Trong đó, lớp Chân bụng có 12 loài thuộc 11 giống, 5 họ; lớp hai mảnh vỏ có 8 loài thuộc 3 giống, 3 họ. Tác giả đã nhận định thành phần loài động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu khá phong phú, có hệ số gần gũi cao. nhất với thành phần loài động vật đáy ở khu vực động Phong Nha, tinh Quang Bình và tính tương đồng giảm dân so với thành phần loài động vật đáy ở sông.
Hương, sông Vu Gia — Thu Bồn và hạ lưu sông Hồng. Tác giả cũng đã xác định các đặc điểm phân bố của các nhóm loài theo đặc diểm sinh cảnh [3 I]. Đối với khu vực Tây Nguyên, nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn. Tống Cường và cộng sự (2013) về đa dạng ĐVKXS cỡ lớn và các loại có nguy cơ bị đe dọa.
Các tác giả đã xác định được ở Tây Nguyên có 60 loài DVD, bao gồm 17 loài giáp xác và 43 loài trai Ốc, trong đó đáng chú ý có 5 loài được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng xác định nguy co đe dọa làm suy giảm quần thẻ và thu hẹp vùng phân bố thủy sinh vật [5] Cũng trong thời gian này, tác giả Đỗ Văn Tứ và cộng sự đã xác định được 147 loài thân mềm (Mollusca) thuộc 81 giống, 42 họ ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Nam Định. Các tác giả cũng nhận định khu hệ động vật ở vùng nghiên cứu mang tính chất chuyển tiếp giữa vùng Trung Hoa - Nhật Bản và Án Độ - Mã Lai, nhưng mức độ gần gũi với vùng Trung Hoa - Nhật Bản lớn hơn so với vùng Án Độ - Mã Lai và các công trình nghiên cứu từ trước cho tới nay chưa thấy loài đặc hữu nào của Việt Nam ở khu vực này [36] Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Huy và các tác giả khác (2014) về đa dạng sinh học vùng nước nội địa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa đã thống kê được. 10 40 loài thân mềm thuộc 31 giống, 21 họ của 9 bộ; sự đa dạng về số lượng loài thân mềm có chiều hướng tăng dần từ khu vực đồi núi tới vùng cửa sông; trong đó, vùng hạ lưu có 38 loài, vùng trung lưu có 16 loài và vùng thượng lưu có 14 loài.
Trong thời gian này, Hoàng Đình Trung và cộng sự công bố đã xác định được lớp chân bụng (Gastropoda) có 30 loài thuộc 26 giống, 12 họ, 2 bộ; lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 16 loài thuộc 14 giống, 4 họ, 3 bộ và bổ sung mới cho thành phần loài thân mềm chân bụng và hai mảnh vỏ ở sông Hương gồm I9 loài, 9 giống và 4 họ. Đồng thời tác giả cũng đã phân tích khá rõ về sự phân bố của các loài theo tính chất nền đáy, theo không gian và thời gian [11], [32] Tập hợp các công trình nghiên cứu từ trước năm 2015, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải đã mô tả 92 loài trai ốc nước ngọt của Việt Nam. Đây sẽ là tài liệu mang tính tổng hợp nhất về trai, Ốc nước ngọt nội địa từ trước đến nay của Việt Nam [35] Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tổ sinh thái lên ĐVKXS ở nước cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu: Nguyễn Xuân Quýnh (1985) nghiên cứu về sông Tô Lịch đã kết luận tình trạng ô nhiễm của sông Tô Lịch ảnh hưởng đến sự phân bố của ĐVKXS. Cụ thể , ở những đoạn mà có nước thải của các nhà máy thải ra nhiều thì số lượng loài sẽ thấp hơn ở những đoạn không có thất thải của nhà máy thải ra, môi trường có phan tét hơn [15] Như vậy, có thê thấy, đã có khá nhi công trình nghiên cứu thân mềm với các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu thành phần loài, mức độ đa dạng, xác định mức độ gần gũi giữa khu vực nghiên cứu với các khu hệ khác, sử dụng thân mềm để đánh giá chất lượng môi trường.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến thành phần loài thân mềm ở khu vực miền Trung còn rất ít. Đặc biệt, việc thực hiện nghiên cứu về động vật hai mảnh vỏ tại Quảng Ngãi cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu ll 1. KHAI QUAT DAC DIEM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên a.
Vi tri địa lý Thanh phó Quảng Ngãi là thành phố tỉnh ly, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và an ninh - quốc phòng của tỉnh Quảng Ngãi. Thanh phố Quảng Ngãi nằm vị trí gần trung độ của tỉnh (cách địa giới tỉnh về phía Bắc 28 km, phía Nam 58 km, phía Tây 57 km, cách bờ biển 10 km); cách thành phố Đà Nẵng 123 km về phía bắc; cách thành phố Quy Nhơn 170 km về phía nam; cách thành phố Hồ Chí Minh 821 km và cách Thủ đô Hà Nội 889 km. C6 toa dé dia ly tir 15°05” đến 15°08” vi d6 Bắc và từ 108"34' đến 108°55” kinh d6 Đông. Diện tích tự nhiên 15.440 nhân khẩu, có 23 đơn vị hành chính cấp xã; trong đó có 09 phường: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Nghiêm, Chánh Lộ, Nghĩa Lộ, Nghĩa Chánh, Quảng Phú, Trương Quang Trọng và 14 xã: Nghĩa Dũng, Nghĩa Dõng, Tịnh Ấn Tây, Tịnh Án Đông, Tịnh An, Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Thiện, Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ, Nghĩa Hà, Nghĩa Phú, Nghĩa An Địa giới hành chính thành phố (mở rộng): + Phía Đông giáp Biển Đông; + Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Sơn Tịnh; + Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tư Nghĩa và huyện Mộ Đức; + Phía Đông Bắc giáp huyện Bình Sơn.
12 BAN BO DIEU CHINH DGHC, MO RONG THANH PHO QUANG NGAI TY LE 1: 35. Ban dé phân bố các đơn vị hành chính thành phố Quảng Ngãi Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa.