Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đẻ tài. Tổ chức day học cum bai luyện tập thao tác lập luận theo hướng. phát triển năng lực người học.
Thực nghiệm sư phạm. NOQLDUNG CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái quát về lập luận và thao tác lập luận Lập luận (LL) là vấn đề khá quen thuộc được quan tâm nghiên cứu trong logic học, ngôn ngữ và lí thuyết về Làm văn, Dến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra được một hệ thống lí luận về li thuyết LI. tương đối hoàn chỉnh.
Có rất nhiều cách định nghĩa và quan niệm về lập luận. Theo Từ điền Tiếng Việt "lập luận” là trình bay li lẽ. Khái niệm LL cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu nêu lên trong các công trình nghiên cứu của họ, Tác giả Đỉnh Trọng Lạc, Lê Xuân Thoại trong cá tay Tiếng Việt THPT” cho rằng LIL. là dựa vào những sự thật đáng tin cậy và các lí lề đầy đủ, xác thực để nêu ra các ý kiến, quan niệm của cá nhân.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong cho rằng: “lập luận là đưa ra những l lẽ, dẫn chứng một cách đày đủ, chặt chẽ, nhất quản và đáng tin cây nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đây mà người viếi, người nói muốn đạt tới” [34, tr. Nói cách khá tập luận là quá trình xây dựng lí lẽ đẻ đề xuất ý kiển, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài nói "| 34, tr. Dỗ Hữu Châu lại định nghĩa như sau: “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn đắt người nghe (người đọc) đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đây mà người nói, người viết muồn đạt tới" [1§, tr.15S] “Theo tác giả Bùi Minh Toán, Nguyễn Quang Ninh thì “ lập luận là quá trình xác lập, tổ chức các yếu tổ nội dung của văn bản nghị luận để thuyết phục người doc, dân dắt đến với kết luận và chấp nhận kết luận được đưa ra trong bài viết. Trong văn bản nghị luận, nêu LL không chặt chẽ thì dù luận điểm, luận cứ đưa ra có hay đến mắy' chăng nữa thì vẫn không có sức thuyết phục." (42, tt 55 Như vậy trong văn bản nghị luận, LL, là yêu tổ cần thiết nhất.
Lập luận là sản phẩm của tư duy logic, do vậy LL phải có lí lẽ, bằng chứng thuyết phục, lại phải biết trình bảy, dẫn đất sao cho LL chat che, thuyết phục. Mặt khác LI, phải có đích, dich của LL là tim ra chân lí mớ xút những tr thức này từ những tr hức khác, là con đường đi đến nhận thức chân lí một cách khoa học.Có thể thấy dù có rất nhiều khái niệm vé LL, mỗi khái niệm được nghiên cứu khác nhau nhưng các tác giả đều đồng nhất với nhau trong việc khẳng định bản chất vấn đề LL cũng như lí thuyết lập luận. Từ đó chúng tôi cho rằng: ráp luận là cách: dùng lí lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, thuyết phục và đẳng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến với kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói, người viết muốn đạt tới. Một lập luận nhất thiết phải có ba yếu tổ: luận cử, kết luận và cách thức lập luận (mỗi quan hệ giữa luận cứ và cách thức lập luận).
Luận cứ: là căn cứ để rút ra kết luận. Đó là những lí lẽ, những dẫn chứng, được người viết rút ra từ thực tiễn đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những được nhiều người thừa nhân, những điễu hiển nhiên. đùng để làm chỗ dựa và làm căn cứ, tiền đề, cơ sở dẫn đến kết luận. Kết luận: là những điều rút ra được sau khi đã so sánh, giải thích, phân tích, chứng minh.trong quá trình lập luận.
Kết luận là cái đích của lập luận, là điều mà người nói, người viết muốn người đọc, người nghe chấp nhận. “Cách thức lập luận: là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách suy luân nào đấy đề dẫn đến kết luận và làm nỗi bật kết luận. Lập luận là quá trình liên kết, xâu chuỗi các luận điểm, luận cứ, nhằm làm. sáng tỏ luận đề theo một chính kiến, một quan điểm để người nghe, người đọc hiểu.
và tin vào kết luận. rong văn nghị luận LỊ luôn được sử dụng để triển khai nội dung nghị luận 'Nhờ có LI. mà con người trình bảy nội dung một cách khoa học, cũng. nhờ có LI mà văn bản nghị luận mới tạo được sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe.
Như vậy để tiến hành một hành động lập luận người viết phải sử dụng các thao tác Tập luận. Thao tác lập luận là thao tác được sử dung dé thực hiện một hành động lập luận, là cách thức dé làm nôn nội dung cho hành động lập luận. Thao tác lập luận chỉnh là những động tác lập luận cỏ tỉnh chất kĩ thuật được thực hiện nhằm đạt tới một nhiệm vụ bàn luận nào đấy “Thao tác LI. là cơ sỡ, là phương tiện, là cái lõi để hình thành bài văn nghị luận.
Hoạt động nghị luận thường được thực hiện bởi các TTLL, như: TL. chứng minh, TTLL so sinh, TTL giai thíeh, TTLL phân tích, TTLL bác bỏ, TTLL, bình uận.các TT này sẽ được HS nghiên cứu trong chương trình từ trung học cơ sở (THCS) dén trung học phổ thông. Nghiên cứu li thuyét LL va TTLL nay sé tao điều kiện cho HS kha nang rén luyén kĩ năng tư duy, phát trién năng lực của mình trong việc tìm hiểu hệ thống các bài luyện tập thao tác lập luận. Thao tác LL phân tích là TTLL thực hiện việc chia tách đối tượng (sự vật, hiện tượng) thành các yếu tố, các khía cạnh theo những tiêu chí, những quan hệ nhất định, từ đó dĩ sâu vào bên trong cũng như bên ngoài của đối tượng (ding cách phản tích để tổ chức, gắn kết các lí lš và dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm).
Phân tích là TTLL. được vận dụng thường xuyên trong các lì h vực của đời sống, Dễ nhận thức thể giới khách quan, con người cần phân tích để đi sâu tìm hiểu, khám phá, nhận thức bản chất bên trong của các sự vật, hiện tượng. RO ring TTLL phan tích là một thao tác cực kì quan trọng, nó không thể thiểu trong mọi hoạt động của cuộc sống con người kể cả trong quá trình học tập. của HS, nhất là học tập về văn nghị luận.
Sau khi phân tích bao gi cũng gắn. với tông hợp và khái quát để bảo đảm nhận thức toàn bộ đối tượng trong chính thể, Phân phải dễn đến nhận định, đánh giá toàn bộ đối tượng, Phải có sự khái quất, phát hiện cho được ban chất của đối tượng thì việc phân tích mới có giá Như vậy, việc hướng din HS giải quyết các bài tập TTILI. phân tích tức là hướng HS đến khả năng phân tích , tổng hợp, đánh giá đối tương. 'Cùng với TTLL phân tích, TTLL bác bỏ là TT sử dụng lí và dẫn chứng đẻ gạt bỏ những quan điểm những ý kiến sai lệch hoặc thiểu chính xác.
từ đó nêu lên. ý kiến của mình nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. TTLL bác bỏ đòi hỏi chính kiến của người tranh luận. Bởi bản chất của nghị luận là tranh luận, là đ thoại.
Dứng trước một vẫn đẻ, mộtý kiến , cá nhân có thể phát hiện ra những ý kiến mà mình cho là chưa thôa đáng thậm chí không đúng. TTLL, bác bỏ cũng luôn đi cùng với các TTLL khác để tạo nên những LIL chặt chẽ, giảu sức thuyết phục. “Thao tác LL bình luận cũng là TT vận dụng sự hiểu biết của mình để nhận. xét, đánh giá, bàn luận về một sự vật, hiện tượng.
nhằm để xuất ý kiến, thuyết phục người đọc, người nghe tin vào ý kiến của mình. Bình luận vốn là nhu cầu và lả hoạt đồng hẳng ngày của con người. Thông qua những dạng bài tập có vận dụng TT này GV day cho HS biết quan tâm, quan sát và suy nghĩ về những gì đang din ra xung quanh mình để có những nhận định, ý kiến đúng đắn nhất trước một vấn đẻ, trước xã hội. Thao tác LIL bình luận cũng cẩn phải kết hợp với các TT khác trong quá trình lập luận.
“Thao tác LL so sánh ing là một trong những TT quan trong được sử dụng trong quá trình viết văn nghị luận nói chung. So sánh là TT đối chiếu một đối tượng. với các đối tượng khác để tìm ra những điểm khác nhau cũng như những điểm tương đồng giữa chúng trên cơ sở đó nhận thức sâu sắc hơn và làm nỗi bật được đối tượng cần nghị luân. Đối với sử dụng TT nảy, HS cũng nên thận trọng trong quá trình so sánh đối tượng.
Nếu chúng ta có thái độ cực đoan, thiểu trung thực và. thiếu khoa học không chỉ làm cho người đọc nhận thức sai lệch về đổi tượng mà. còn tai hại hơn là khiển cho người viết thiếu niềm tin vao LL. do ct th bản thân mình tạo ra Đó là tất cả các TTLIL.
được sử dụng tổng hợp trong quá trình viết văn nghị. Chính vì lẽ đó mà các bài luyện tập các TTLL và luyện tập vận dụng kết hợp các TTLL chỉ nhằm vào một mục đích là nâng cao ý thức, kĩ năng, năng lực viết văn cho HS. Đó cũng là cái đích cuối cùng của việc dạy và học cụm bài luyện tập các TTLI. nhằm phát huy năng lực của HS trong nhà trường THPT hiện nay.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học 1. Khái niệm về năng lực, phát triển năng lực người học. “Trong xu thé phat trién cua giáo dục hiện nay, dạy học theo định hướng phát triển năng lực hay còn goi “GD định hướng năng lực" với mục tiêu phát triển năng lực người học và nay cũng đã trở thành một xu thế giáo dục quốc tế; có dấu hiệu. khác biệt quan trọng là chuyển từ việc kiểm soát chất lượng đầu vào sang chú trọng.
năng lực đầu ra, thực hiện mục tiêu phat trién toàn diện nhân cách, chú trong năng lực vận dung trỉ thức của người học vào giải quyết những tình huồng của thực tiễn cuộc sống; đồng thời nhắn mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể năng đông, sáng tạo của quá trình nhận thức. Năng lực được xem là phẩm chất, kiến thức, kĩ năng vỗn có và qua quá trình xèn luyện của con người mà hình thành nên Ngày nay, khái niệm từ “năng lực” được sử dụng khá rộng rãi, cả trong cuộc sống đời thường lẫn trong nghiên cứu khoa học.