Luận văn: Dạy thao tác lập luận ở THPT theo hướng phát triển năng lực người học

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp dạy bài luyện tập thao tác lập luận tại trường trung học phổ thông, phát triển năng lực học sinh.

Trường đại học

Trường Đại Học Sư Phạm

Chuyên ngành

Khoa Học Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các biểu, bảng

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Khái quát về lập luận và thao tác lập luận

1.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học

1.3. Vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực người học

1.4. Đặc điểm tâm lí học sinh THPT với việc phát triển năng lực người học

1.5. Cơ sở thực tiễn

1.5.1. Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THPT

1.5.2. Thực trạng dạy và học cụm bài luyện tập thao tác lập luận ở trường THPT

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CỤM BÀI LUYỆN TẬP THAO TÁC LẬP LUẬN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC

2.1. Một số định hướng chung trong việc dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực người học

2.1.1. Dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận phải tuân thủ nguyên tắc củng cố lí thuyết gắn với thực hành

2.1.2. Dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận phải dựa trên quan điểm giao tiếp và quan điểm tích hợp

2.1.3. Dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận phải chú ý vào năng lực hiện có của học sinh

2.2. Cách thức tổ chức dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực người học

2.2.1. Cách tổ chức dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận trong các giờ thực hành tại lớp

2.2.2. Luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực người học thông qua hệ thống bài tập

2.2.3. Tổ chức dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực người học thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá

2.2.4. Tổ chức dạy học cụm bài luyện tập thao tác lập luận theo hướng phát triển năng lực học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm

3.2. Đối tượng, địa bàn và phương pháp thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Tiến trình thực nghiệm

3.5. Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Dạy thao tác lập luận Chìa khóa phát triển năng lực HS

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc chuyển đổi từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học là một yêu cầu cấp thiết. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về “Dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận ở trường trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học” của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên đã cung cấp một cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho định hướng này. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn hình thành và rèn luyện kỹ năng lập luận, một trong những năng lực cốt lõi của con người trong thế kỷ 21. Dạy học các thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bác bỏ không chỉ là nhiệm vụ của môn Ngữ văn mà còn là nền tảng để phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo. Khi được trang bị những kỹ năng này, học sinh trung học phổ thông có thể tự tin bày tỏ quan điểm, tham gia vào các cuộc tranh luận xã hội và tự học suốt đời. Đây chính là mục tiêu cuối cùng mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng tới, nhấn mạnh việc hình thành phẩm chất và năng lực cho công dân tương lai. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp giảng dạy Ngữ văn tiên tiến để dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận là vô cùng quan trọng, góp phần trực tiếp vào sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục.

1.1. Hiểu đúng về năng lực người học trong dạy học Ngữ văn

Năng lực người học được định nghĩa là sự kết hợp linh hoạt kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị để giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn. Trong môn Ngữ văn, năng lực này không chỉ là khả năng đọc hiểu văn bản mà còn bao gồm năng lực tạo lập văn bản, năng lực giao tiếp và đặc biệt là năng lực tư duy. Các thao tác lập luận chính là công cụ để hiện thực hóa năng lực tư duy. Ví dụ, thao tác lập luận phân tích giúp học sinh chia nhỏ vấn đề, xem xét các khía cạnh khác nhau, trong khi thao tác lập luận so sánh giúp các em nhận ra điểm tương đồng và khác biệt, từ đó đưa ra những đánh giá sâu sắc hơn. Việc dạy học theo định hướng này đòi hỏi giáo viên phải thay đổi vai trò từ người truyền đạt thành người tổ chức, hướng dẫn, tạo ra môi trường học tập tích cực để học sinh tự mình khám phá và hình thành kỹ năng.

1.2. Vai trò của các thao tác lập luận trong chương trình mới

Luận văn nhấn mạnh, các thao tác lập luận là “cái lõi để hình thành bài văn nghị luận”. Trong chương trình mới, văn nghị luận không chỉ giới hạn trong phạm vi văn học mà mở rộng ra các vấn đề đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi học sinh phải có khả năng vận dụng tổng hợp nhiều thao tác lập luận. Chẳng hạn, khi bàn về một vấn đề xã hội, học sinh cần phân tích nguyên nhân, so sánh với các hiện tượng khác, bình luận về tác động và có thể phải sử dụng thao tác lập luận bác bỏ để phản biện lại những quan điểm sai lệch. Việc luyện tập thường xuyên các thao tác này giúp học sinh hình thành một hệ thống tư duy logic, chặt chẽ, làm nền tảng không chỉ cho việc học môn Ngữ văn mà còn cho tất cả các môn học khác và cuộc sống sau này. Đây là một đóng góp quan trọng của nghiên cứu khoa học giáo dục vào việc cụ thể hóa mục tiêu của chương trình.

II. Thách thức dạy thao tác lập luận ở trường THPT hiện nay

Mặc dù tầm quan trọng của việc dạy thao tác lập luận đã được công nhận, thực tiễn triển khai tại các trường trung học phổ thông vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Luận văn của Nguyễn Thị Kim Liên đã chỉ ra một thực trạng đáng suy ngẫm thông qua các khảo sát thực tế. Một trong những rào cản lớn nhất là lối dạy học truyền thống vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc. Nhiều giờ học luyện tập thao tác lập luận vẫn nặng về lý thuyết, khô khan và thiếu tính thực hành. Giáo viên chủ yếu giảng giải khái niệm, sau đó yêu cầu học sinh làm theo các bài tập mẫu có sẵn. Cách làm này vô tình biến giờ học thành một quá trình sao chép máy móc, không kích thích được sự chủ động và sáng tạo của học sinh. Hậu quả là học sinh tuy nắm được lý thuyết nhưng khi gặp một vấn đề mới trong thực tế lại tỏ ra lúng túng, không biết vận dụng. Hơn nữa, việc kiểm tra đánh giá năng lực vẫn còn nhiều bất cập, thường chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng (bài viết) mà chưa chú trọng đến quá trình tư duy và rèn luyện kỹ năng của người học. Những khó khăn này đòi hỏi một sự đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn một cách toàn diện và đồng bộ.

2.1. Thực trạng dạy học Ngữ văn còn nặng về truyền thụ một chiều

Kết quả khảo sát trong luận văn cho thấy, nhiều giáo viên vẫn áp dụng phương pháp thuyết giảng là chính trong các giờ luyện tập. Thời gian trên lớp chủ yếu dành cho việc giáo viên củng cố lại lý thuyết, trong khi phần thực hành của học sinh lại rất hạn chế. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: áp lực về thời lượng chương trình, sĩ số lớp đông, và đôi khi là do thói quen giảng dạy đã ăn sâu. Việc học thụ động khiến học sinh mất đi hứng thú, xem giờ Làm văn là một môn học “khô, khó, khổ”. Các em ít có cơ hội được tranh luận, trình bày quan điểm cá nhân hay làm việc nhóm để cùng nhau giải quyết vấn đề. Đây là rào cản lớn nhất đối với dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

2.2. Hạn chế trong việc thiết kế bài giảng và hệ thống bài tập

Một thách thức khác được chỉ ra là hệ thống bài tập trong sách giáo khoa đôi khi còn đơn giản, chưa đủ đa dạng và thiếu các tình huống thực tiễn để kích thích tư duy học sinh. Việc thiết kế bài giảng của giáo viên do đó cũng gặp khó khăn. Nếu chỉ bám sát sách giáo khoa, giờ học sẽ trở nên đơn điệu. Ngược lại, để xây dựng một hệ thống bài tập mới, mang tính thực tiễn và phân hóa theo năng lực học sinh đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức. Thực tế, không phải giáo viên nào cũng có đủ điều kiện và chuyên môn để thực hiện tốt việc này, dẫn đến chất lượng các giờ luyện tập không đồng đều, chưa thực sự phát huy được tiềm năng của năng lực người học.

III. Phương pháp dạy thao tác lập luận Tích hợp và giao tiếp

Để vượt qua các thách thức, luận văn đề xuất những định hướng và phương pháp tổ chức dạy học cụ thể, trong đó nổi bật là quan điểm tích hợp và quan điểm giao tiếp. Đây là những nền tảng của lý luận dạy học hiện đại, giúp biến giờ học luyện tập từ thụ động sang chủ động, từ lý thuyết suông sang thực hành sống động. Quan điểm giao tiếp đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề, yêu cầu các em phải sử dụng ngôn ngữ và lập luận để giải quyết, trao đổi, thuyết phục người khác. Thay vì chỉ viết trên giấy, học sinh được khuyến khích tham gia tranh luận, hùng biện, làm việc nhóm. Trong khi đó, quan điểm tích hợp giúp kết nối kiến thức về thao tác lập luận với các phân môn khác như Đọc văn và Tiếng Việt. Học sinh sẽ nhận ra rằng, kỹ năng lập luận không phải là thứ gì đó xa vời, mà chính là công cụ để các em cảm thụ sâu sắc hơn một tác phẩm văn học hay sử dụng tiếng Việt một cách chính xác, hiệu quả hơn. Việc áp dụng đồng bộ hai quan điểm này sẽ tạo ra một môi trường dạy học tích cực, nơi mọi học sinh đều được tham gia và phát triển.

3.1. Vận dụng quan điểm giao tiếp để tăng tính tương tác

Tổ chức giờ học theo quan điểm giao tiếp có nghĩa là tạo ra các hoạt động tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau. Thay vì chỉ giải các bài tập trong sách, giáo viên có thể đưa ra các chủ đề tranh luận nóng hổi trong xã hội (ví dụ: “sử dụng mạng xã hội”, “bảo vệ môi trường”), chia lớp thành các nhóm để bảo vệ những quan điểm khác nhau. Qua quá trình này, học sinh buộc phải vận dụng thao tác lập luận bác bỏ để phản biện ý kiến đối lập, dùng thao tác phân tích, so sánh để làm rõ luận điểm của mình. Hoạt động này không chỉ rèn luyện kỹ năng lập luận mà còn phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác và sự tự tin của học sinh.

3.2. Áp dụng quan điểm tích hợp để kết nối kiến thức

Tích hợp trong dạy học thao tác lập luận có hai hướng chính: tích hợp dọc và tích hợp ngang. Tích hợp dọc là kết nối kiến thức đã học ở các lớp dưới với kiến thức mới. Tích hợp ngang là liên kết kiến thức Làm văn với Đọc văn và Tiếng Việt. Ví dụ, khi dạy bài “Luyện tập thao tác lập luận so sánh”, giáo viên có thể yêu cầu học sinh so sánh phong cách thơ của Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan dựa trên các văn bản đã học trong phần Đọc văn. Việc này giúp kiến thức trở nên có hệ thống, sâu sắc và thực tiễn. Học sinh hiểu rằng học Làm văn chính là để phục vụ cho việc đọc hiểu và tạo lập văn bản một cách tốt hơn, từ đó nâng cao hiệu quả của phương pháp giảng dạy Ngữ văn.

IV. Cách thiết kế bài giảng luyện tập thao tác lập luận hiệu quả

Từ những định hướng chung, luận văn đi sâu vào cách thức tổ chức và thiết kế bài giảng cụ thể cho cụm bài luyện tập thao tác lập luận. Một giờ học hiệu quả phải được xây dựng trên một hệ thống bài tập khoa học, đi từ thấp đến cao, từ nhận diện đến vận dụng và sáng tạo. Quy trình tổ chức giờ thực hành cần linh hoạt, kết hợp nhiều hình thức hoạt động như làm việc cá nhân, thảo luận nhóm, nêu vấn đề và vấn đáp. Mục tiêu là tạo điều kiện tối đa để mọi học sinh, dù ở trình độ nào, cũng có thể tham gia vào quá trình học tập. Giáo viên đóng vai trò là người điều phối, đặt ra các câu hỏi gợi mở, khơi dậy tư duy phản biện và định hướng cho học sinh tự tìm ra kiến thức. Đặc biệt, việc xây dựng một hệ thống bài tập đa dạng, gắn liền với thực tiễn cuộc sống là yếu tố then chốt. Những bài tập này không chỉ củng cố lý thuyết mà còn giúp học sinh thấy được ý nghĩa thiết thực của việc học lập luận, từ đó có thêm động lực và hứng thú. Cách tiếp cận này tương tự như các phương pháp được đề cập trong các luận án tiến sĩ giáo dục học về đổi mới dạy học.

4.1. Xây dựng hệ thống bài tập theo các mức độ năng lực

Một hệ thống bài tập hiệu quả cần được phân hóa theo ba cấp độ. Cấp độ 1 (Nhận biết): Các bài tập yêu cầu học sinh xác định các thao tác lập luận được sử dụng trong một đoạn văn cho trước. Cấp độ 2 (Thông hiểu và vận dụng): Học sinh được yêu cầu viết các đoạn văn ngắn vận dụng một thao tác lập luận cụ thể để làm rõ một luận điểm. Cấp độ 3 (Vận dụng cao): Học sinh viết một bài văn hoàn chỉnh, kết hợp nhiều thao tác lập luận để giải quyết một vấn đề phức tạp trong văn học hoặc đời sống. Cách xây dựng bài tập theo bậc thang năng lực này đảm bảo tính vừa sức, giúp học sinh yếu và trung bình có thể theo kịp, đồng thời tạo cơ hội cho học sinh khá, giỏi phát huy khả năng sáng tạo.

4.2. Đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động trên lớp

Để tránh sự nhàm chán, giáo viên cần linh hoạt kết hợp nhiều hình thức tổ chức. Hoạt động cá nhân giúp học sinh tự suy nghĩ và rèn luyện tính độc lập. Hoạt động thảo luận nhóm phát huy tinh thần hợp tác và cho phép các em học hỏi lẫn nhau. Phương pháp nêu vấn đề đặt học sinh vào vị trí người khám phá, kích thích sự tò mò và dạy học tích cực. Phương pháp vấn đáp giúp giáo viên nhanh chóng kiểm tra mức độ hiểu bài và tương tác sâu hơn với học sinh. Sự kết hợp nhuần nhuyễn các hình thức này sẽ biến giờ học luyện tập thành một buổi thực hành sôi nổi, hiệu quả và thực sự tập trung vào việc phát triển năng lực người học.

V. Kết quả thực nghiệm dạy thao tác lập luận phát triển năng lực

Để chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đề xuất, luận văn đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT. Kết quả thu được mang lại những tín hiệu rất tích cực, khẳng định hướng đi đúng đắn của đề tài. Các lớp thực nghiệm, nơi giáo viên áp dụng các phương pháp giảng dạy Ngữ văn đổi mới, đã cho thấy sự tiến bộ rõ rệt so với các lớp đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Học sinh ở các lớp thực nghiệm tỏ ra hào hứng, tích cực và chủ động hơn trong giờ học. Các em không còn e ngại khi phải trình bày quan điểm cá nhân và tham gia tranh luận. Quan trọng hơn, chất lượng các bài kiểm tra của lớp thực nghiệm cao hơn hẳn. Khả năng vận dụng kết hợp các thao tác lập luận của học sinh trở nên linh hoạt và nhuần nhuyễn hơn. Các bài viết không chỉ đúng về mặt kỹ năng mà còn thể hiện được chiều sâu tư duy và góc nhìn sáng tạo. Những số liệu này là minh chứng thuyết phục cho thấy, khi được dạy đúng phương pháp, học sinh trung học phổ thông hoàn toàn có thể làm chủ kỹ năng lập luận và phát triển năng lực của bản thân một cách toàn diện.

5.1. Phân tích kết quả định lượng qua các bài kiểm tra

Luận văn đã sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý số liệu từ các bài kiểm tra 15 phút và 90 phút. Kết quả cho thấy điểm số trung bình của các lớp thực nghiệm luôn cao hơn các lớp đối chứng. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở lớp thực nghiệm tăng lên đáng kể, trong khi tỷ lệ học sinh yếu, kém giảm đi rõ rệt. Biểu đồ so sánh kết quả cũng cho thấy một đường cong phát triển ổn định và tích cực ở nhóm thực nghiệm. Đây là cơ sở khoa học vững chắc để khẳng định hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc nâng cao chất lượng học tập bộ môn.

5.2. Đánh giá sự thay đổi về thái độ và năng lực học tập

Bên cạnh kết quả định lượng, sự thay đổi về mặt định tính cũng rất đáng ghi nhận. Thông qua phỏng vấn và quan sát, có thể thấy học sinh ở lớp thực nghiệm đã thay đổi thái độ học tập một cách tích cực. Các em không còn học một cách thụ động, đối phó mà thực sự tham gia vào bài học với sự hứng thú. Năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp và đặc biệt là tư duy phản biện được cải thiện rõ rệt. Các em mạnh dạn đặt câu hỏi, phản biện ý kiến của bạn bè và cả giáo viên, tạo ra một không khí học tập dân chủ và cởi mở. Đây chính là thành công lớn nhất của mô hình dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục dạy cụm bài luyện tập thao tác lập luận ở trường trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đẻ tài. Tổ chức day học cum bai luyện tập thao tác lập luận theo hướng. phát triển năng lực người học.

Thực nghiệm sư phạm. NOQLDUNG CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái quát về lập luận và thao tác lập luận Lập luận (LL) là vấn đề khá quen thuộc được quan tâm nghiên cứu trong logic học, ngôn ngữ và lí thuyết về Làm văn, Dến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra được một hệ thống lí luận về li thuyết LI. tương đối hoàn chỉnh.

Có rất nhiều cách định nghĩa và quan niệm về lập luận. Theo Từ điền Tiếng Việt "lập luận” là trình bay li lẽ. Khái niệm LL cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu nêu lên trong các công trình nghiên cứu của họ, Tác giả Đỉnh Trọng Lạc, Lê Xuân Thoại trong cá tay Tiếng Việt THPT” cho rằng LIL. là dựa vào những sự thật đáng tin cậy và các lí lề đầy đủ, xác thực để nêu ra các ý kiến, quan niệm của cá nhân.

Tác giả Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong cho rằng: “lập luận là đưa ra những l lẽ, dẫn chứng một cách đày đủ, chặt chẽ, nhất quản và đáng tin cây nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đây mà người viếi, người nói muốn đạt tới” [34, tr. Nói cách khá tập luận là quá trình xây dựng lí lẽ đẻ đề xuất ý kiển, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài nói "| 34, tr. Dỗ Hữu Châu lại định nghĩa như sau: “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn đắt người nghe (người đọc) đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đây mà người nói, người viết muồn đạt tới" [1§, tr.15S] “Theo tác giả Bùi Minh Toán, Nguyễn Quang Ninh thì “ lập luận là quá trình xác lập, tổ chức các yếu tổ nội dung của văn bản nghị luận để thuyết phục người doc, dân dắt đến với kết luận và chấp nhận kết luận được đưa ra trong bài viết. Trong văn bản nghị luận, nêu LL không chặt chẽ thì dù luận điểm, luận cứ đưa ra có hay đến mắy' chăng nữa thì vẫn không có sức thuyết phục." (42, tt 55 Như vậy trong văn bản nghị luận, LL, là yêu tổ cần thiết nhất.

Lập luận là sản phẩm của tư duy logic, do vậy LL phải có lí lẽ, bằng chứng thuyết phục, lại phải biết trình bảy, dẫn đất sao cho LL chat che, thuyết phục. Mặt khác LI, phải có đích, dich của LL là tim ra chân lí mớ xút những tr thức này từ những tr hức khác, là con đường đi đến nhận thức chân lí một cách khoa học.Có thể thấy dù có rất nhiều khái niệm vé LL, mỗi khái niệm được nghiên cứu khác nhau nhưng các tác giả đều đồng nhất với nhau trong việc khẳng định bản chất vấn đề LL cũng như lí thuyết lập luận. Từ đó chúng tôi cho rằng: ráp luận là cách: dùng lí lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, thuyết phục và đẳng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến với kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói, người viết muốn đạt tới. Một lập luận nhất thiết phải có ba yếu tổ: luận cử, kết luận và cách thức lập luận (mỗi quan hệ giữa luận cứ và cách thức lập luận).

Luận cứ: là căn cứ để rút ra kết luận. Đó là những lí lẽ, những dẫn chứng, được người viết rút ra từ thực tiễn đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những được nhiều người thừa nhân, những điễu hiển nhiên. đùng để làm chỗ dựa và làm căn cứ, tiền đề, cơ sở dẫn đến kết luận. Kết luận: là những điều rút ra được sau khi đã so sánh, giải thích, phân tích, chứng minh.trong quá trình lập luận.

Kết luận là cái đích của lập luận, là điều mà người nói, người viết muốn người đọc, người nghe chấp nhận. “Cách thức lập luận: là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách suy luân nào đấy đề dẫn đến kết luận và làm nỗi bật kết luận. Lập luận là quá trình liên kết, xâu chuỗi các luận điểm, luận cứ, nhằm làm. sáng tỏ luận đề theo một chính kiến, một quan điểm để người nghe, người đọc hiểu.

và tin vào kết luận. rong văn nghị luận LỊ luôn được sử dụng để triển khai nội dung nghị luận 'Nhờ có LI. mà con người trình bảy nội dung một cách khoa học, cũng. nhờ có LI mà văn bản nghị luận mới tạo được sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe.

Như vậy để tiến hành một hành động lập luận người viết phải sử dụng các thao tác Tập luận. Thao tác lập luận là thao tác được sử dung dé thực hiện một hành động lập luận, là cách thức dé làm nôn nội dung cho hành động lập luận. Thao tác lập luận chỉnh là những động tác lập luận cỏ tỉnh chất kĩ thuật được thực hiện nhằm đạt tới một nhiệm vụ bàn luận nào đấy “Thao tác LI. là cơ sỡ, là phương tiện, là cái lõi để hình thành bài văn nghị luận.

Hoạt động nghị luận thường được thực hiện bởi các TTLL, như: TL. chứng minh, TTLL so sinh, TTL giai thíeh, TTLL phân tích, TTLL bác bỏ, TTLL, bình uận.các TT này sẽ được HS nghiên cứu trong chương trình từ trung học cơ sở (THCS) dén trung học phổ thông. Nghiên cứu li thuyét LL va TTLL nay sé tao điều kiện cho HS kha nang rén luyén kĩ năng tư duy, phát trién năng lực của mình trong việc tìm hiểu hệ thống các bài luyện tập thao tác lập luận. Thao tác LL phân tích là TTLL thực hiện việc chia tách đối tượng (sự vật, hiện tượng) thành các yếu tố, các khía cạnh theo những tiêu chí, những quan hệ nhất định, từ đó dĩ sâu vào bên trong cũng như bên ngoài của đối tượng (ding cách phản tích để tổ chức, gắn kết các lí lš và dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm).

Phân tích là TTLL. được vận dụng thường xuyên trong các lì h vực của đời sống, Dễ nhận thức thể giới khách quan, con người cần phân tích để đi sâu tìm hiểu, khám phá, nhận thức bản chất bên trong của các sự vật, hiện tượng. RO ring TTLL phan tích là một thao tác cực kì quan trọng, nó không thể thiểu trong mọi hoạt động của cuộc sống con người kể cả trong quá trình học tập. của HS, nhất là học tập về văn nghị luận.

Sau khi phân tích bao gi cũng gắn. với tông hợp và khái quát để bảo đảm nhận thức toàn bộ đối tượng trong chính thể, Phân phải dễn đến nhận định, đánh giá toàn bộ đối tượng, Phải có sự khái quất, phát hiện cho được ban chất của đối tượng thì việc phân tích mới có giá Như vậy, việc hướng din HS giải quyết các bài tập TTILI. phân tích tức là hướng HS đến khả năng phân tích , tổng hợp, đánh giá đối tương. 'Cùng với TTLL phân tích, TTLL bác bỏ là TT sử dụng lí và dẫn chứng đẻ gạt bỏ những quan điểm những ý kiến sai lệch hoặc thiểu chính xác.

từ đó nêu lên. ý kiến của mình nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. TTLL bác bỏ đòi hỏi chính kiến của người tranh luận. Bởi bản chất của nghị luận là tranh luận, là đ thoại.

Dứng trước một vẫn đẻ, mộtý kiến , cá nhân có thể phát hiện ra những ý kiến mà mình cho là chưa thôa đáng thậm chí không đúng. TTLL, bác bỏ cũng luôn đi cùng với các TTLL khác để tạo nên những LIL chặt chẽ, giảu sức thuyết phục. “Thao tác LL bình luận cũng là TT vận dụng sự hiểu biết của mình để nhận. xét, đánh giá, bàn luận về một sự vật, hiện tượng.

nhằm để xuất ý kiến, thuyết phục người đọc, người nghe tin vào ý kiến của mình. Bình luận vốn là nhu cầu và lả hoạt đồng hẳng ngày của con người. Thông qua những dạng bài tập có vận dụng TT này GV day cho HS biết quan tâm, quan sát và suy nghĩ về những gì đang din ra xung quanh mình để có những nhận định, ý kiến đúng đắn nhất trước một vấn đẻ, trước xã hội. Thao tác LIL bình luận cũng cẩn phải kết hợp với các TT khác trong quá trình lập luận.

“Thao tác LL so sánh ing là một trong những TT quan trong được sử dụng trong quá trình viết văn nghị luận nói chung. So sánh là TT đối chiếu một đối tượng. với các đối tượng khác để tìm ra những điểm khác nhau cũng như những điểm tương đồng giữa chúng trên cơ sở đó nhận thức sâu sắc hơn và làm nỗi bật được đối tượng cần nghị luân. Đối với sử dụng TT nảy, HS cũng nên thận trọng trong quá trình so sánh đối tượng.

Nếu chúng ta có thái độ cực đoan, thiểu trung thực và. thiếu khoa học không chỉ làm cho người đọc nhận thức sai lệch về đổi tượng mà. còn tai hại hơn là khiển cho người viết thiếu niềm tin vao LL. do ct th bản thân mình tạo ra Đó là tất cả các TTLIL.

được sử dụng tổng hợp trong quá trình viết văn nghị. Chính vì lẽ đó mà các bài luyện tập các TTLL và luyện tập vận dụng kết hợp các TTLL chỉ nhằm vào một mục đích là nâng cao ý thức, kĩ năng, năng lực viết văn cho HS. Đó cũng là cái đích cuối cùng của việc dạy và học cụm bài luyện tập các TTLI. nhằm phát huy năng lực của HS trong nhà trường THPT hiện nay.

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học 1. Khái niệm về năng lực, phát triển năng lực người học. “Trong xu thé phat trién cua giáo dục hiện nay, dạy học theo định hướng phát triển năng lực hay còn goi “GD định hướng năng lực" với mục tiêu phát triển năng lực người học và nay cũng đã trở thành một xu thế giáo dục quốc tế; có dấu hiệu. khác biệt quan trọng là chuyển từ việc kiểm soát chất lượng đầu vào sang chú trọng.

năng lực đầu ra, thực hiện mục tiêu phat trién toàn diện nhân cách, chú trong năng lực vận dung trỉ thức của người học vào giải quyết những tình huồng của thực tiễn cuộc sống; đồng thời nhắn mạnh vai trò của người học với tư cách là chủ thể năng đông, sáng tạo của quá trình nhận thức. Năng lực được xem là phẩm chất, kiến thức, kĩ năng vỗn có và qua quá trình xèn luyện của con người mà hình thành nên Ngày nay, khái niệm từ “năng lực” được sử dụng khá rộng rãi, cả trong cuộc sống đời thường lẫn trong nghiên cứu khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ