CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. CAC VAN DE VE DA DANG SINH HOC 1. Khái niệm về đa dạng sinh học Da dang sinh hoc (DSH) là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường. Theo Hiệp định về đa dạng sinh học (CBD) “Đa dạng sinh học bao gồm sự phong phú đa dạng và khả năng biến đổi trong thế giới sinh vật sống và cả các phức hệ sinh thái mà trong đó chúng đang tồn tại, điều này có thể xảy ra trong cùng loài, giữa các loài, bên trong một hệ sinh thái hoặc giữa các hệ sinh thái với nhau” (CBD 1992) Sự đa dạng phong phú (variety) là các dạng sống và sự khác biệt của chúng.
Sự thay đổi (variation) là thước đo của sự đa dạng, phạm vi mức độ khác biệt. Khả năng biến đổi (variability) có nghĩa là khả năng, năng lực để thay đổi, biến đổi Các nhà sinh vật học thường xem xét ĐDSH ở 3 mức độ: Đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái + Da dang di truyén Đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen, chỉ sự phong phú về gen và sự khác nhau số lượng của các gen, bộ gen trong mỗi quản thể và giữa các cá thể. Nghiên cứu về đa dạng gen đòi hỏi nhiều thời gian, thiết bị, tài chính, kỹ thuật và hiểu biết về đa dạng gen trên thế giới còn ít. Tuy nhiên, đa dạng di truyền có tầm quan trọng đối với bắt kỳ một loài sinh vật nào để duy trì khả ngược lại.
Giá trị này đạt tối đa khi giữa 2 hiện trường nghiên cứu không hề có chung một loài xuất hiện (tương đồng là zero), + Đa đạng sinh học gamma: được định nghĩa là mức độ gặp một loài bổ sung khi thay đôi địa lý trong các khu vực khác nhau của một kiểu cư trú. Đa dạng này cho biết sự khác nhau về thành phần loài và các chỉ số đa dạng sinh học của 2 khu hệ sinh sống/cư trú lớn cách xa/ gần kể nhau. Nhu vay, DDSH bao gồm sự phong phú của thế giới sinh vật ởtất cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và sự tổ hợp của chúng trong các mối quan hệ phức tạp giữa chúng với nhau, với thế giới vô sinh và với xã hội loài người. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học Giá trị của ĐDSH là không thê thay thế đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học trong đó có con người, với kinh tế, xã hội, văn hoá và giáo dục, cụ thể: «_ Giá trị kinh tế ĐDSH đã đang và sẽ mãi mãi là nguồn lương thực, thực phẩm, nơi cư trú, nguồn giống vật nuôi cây trồng và là nguồn dược liệu quí giá đảm bảo.
cho loài người tồn tại và phát triển. ĐDSH còn cung cấp các nguyên vật liệu cho nhiều ngành nghề như gỗ, nhựa, sợi, da, lông và đặc biệt là củi đun cho. hàng tỉ con người trên thế giới 5 Giá trị sinh thái và môi trường Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của mọi sinh vật. Nó còn có vai trò quan trọng trong điều hoà khí hậu, làm trong sạch môi trường không khí, nước, đảm bảo cho chu trình cơ bản trong thiên nhiên như chu trình dinh dưỡng, chu trình nước, chu trình ni tơ, chu trình cacbon, chu trình phốt pho.
DDSH có vai trò trong việc giữ độ phì của đắt, cân bằng nguồn nước và ngăn ngừa dịch bệnh. «_ Giá trị về thẩm mỹ, văn hoá, tín ngưỡng và giải trí Những hình ảnh, những cảnh quan tự nhiên do các loài sinh vật cũng như các hệ sinh thái tạo nên đã giúp con người mở mang trí tuệ, Lim gidu tri thức của mình. ĐDSH giúp con người sống và hiểu nhau hơn. Khám phá thiên nhiên hoang dã luôn là niềm đam mê của hàng triệu người trên thế giới và du lịch sinh thái là một trong các ngành có tốc độ phát triển nhanh, thu lợi lớn ở nhiều nước trên thể 1.
Suy thoái đa dạng sinh học và giải pháp bảo tồn «_ Suy thoái đa dang sinh hoc Tuy rừng Việt Nam có tính ĐDSH cao nhưng hiện nó đã và đang bị suy thoái do hai nguyên nhân chính, đó là hiểm hoạ tự nhiên (Băng hà, núi lửa, động đất.) và do con người, trong đó nguyên nhân con người là chủ yếu: - Lam mat nơi sống cúa các loài sinh vật. Rừng tự nhiên bị mất và bị chia cất thành nhị đám nhỏ, cháy rừng, khai thác quá mức, khai thác củi đun, khai thác các lâm sản ngoài gỗ (song mây, cây thuốc, động vật hoang dã) - Du canh và xâm lấn đất (phá rừng làm nương rẫy, di dân tự do, phá rừng ngập mặn đề xây dựng đầm nuôi tôm.) ~ Ô nhiễm nước (do nước thải công nghiệp, thuốc trừ sâu, tràn dầu, lắng đọng bùn ở các cửa sông, cảng. - Sự xuống cấp vùng bờ biển (bờ biển thu hẹp, diện tích vùng triều giảm, độ chua phèn tăng, quá trình lắng bùn cửa sông và ô nhiễm.) - Sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường (sử dụng giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất cao, loại bỏ các loài bản địa có năng suất thấp.) «_ Các giải pháp bảo tần đa dạng sinh học Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam hiện đang áp dụng 3 giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn tính ĐDSH của mình, đó là: 10 - Các công ước Quốc iệt Nam đã ký tham gia nhiều công ước quốc tế nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu như sau: “Tên công ước Năm ký Công ước bảo vệ các vùng dat ngập nước - RAMSA. 1983 Công ước Buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vậthoang | 1994 đã nguy cấp - CITES Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biên 1994 Công ước vê bảo vệ tang ôzôn 1994 Nghị định thư về các chất lẫm suy thoái tâng ô zôn 1994 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đôi khí hậu 1994 Công ước ĐDSH 1994 Công ước về kiêm soát vận chuyên xuyên biên giới và tiêu huỷ |_ 1995 chất thải nguy hiểm - Bảo tồn nội vi (Insitu): Đây là giải pháp bảo tồn các loài tại ngay nơi chúng đang tồn tại.
Bảo tồn nội vi hiện được nhiều quốc gia áp dụng thông qua các hoạt động xây dựng hệ thống khu bảo tồn. - Bảo tồn ngoại vi (Exitu): Gây nuôi trồng các loài có nguy cơ bị tiêu diệt thông qua các hoạt động xây dựng các vườn thực vật, vườn cây gỗ, ngân hàng hạt giống, vườn thú, trung tâm cứu hộ, bể nuôi. Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam thực chất đã được Đảng và Chính phủ quan tâm từ lâu. Nhiều văn bản pháp quy về bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật hoang đã, nguồn lợi thuỷ sản đã được ban hành từ những năm cuối của thập kỷ 50 và phát triển mạnh từ những năm đầu thập kỷ 60.
Bộ luật của Quốc gia hiện có 1 pháp lệnh và 2 bộ luật quan trọng liên quan đến bảo tồn ĐDSH đó là "Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản" (1989), "Luật bảo vệ và phát triển rừng" (1991- Sửa đổi năm 2004) và "Luật bảo vệ môi trường" (1993). Mặc dù đất nước có chiến tranh nhưng ngay từ năm 1962, Vườn Quốc gia (VQG) đầu tiên của Việt Nam-VQG Cúc Phương đã được thành lập. Đến nay, một hệ thống gồm 133 khu bảo tồn đất liền và biển với tổng diện tích " 1.817ha đang được đệ trình Chính phủ phê duyệt. Sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển, hệ thống khu bảo tồn Việt Nam đã và đang góp phần quyết định đối với sự nghiệp bảo tồn ĐDSH, bảo vệ các nguồn gen đặc hữu quý m của Quốc gia Ngoài những giải pháp trên, trong những năm gần đây, một số trung tâm cứu hộ động vật hoang dã cũng đã được xây dựng, trong đó, trung tâm cứu hộ các loài thú linh trưởng nguy cấp ở Vườn Quốc gia Cúc Phương được nhiều tô chức Quốc tế đánh giá tốt nhất khu vực Châu Á.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT 1. Trên thế giới 'Việc nghiên cứu thực vật đã được tiền hành từ rất sớm, công trình nghiên cứu đầu tiên về thực vật xuất hiện ở Ai Cập (3000 năm trước Công nguyên), ở Trung Quốc (2200 năm trước Công nguyên) sau đó ở Hy Lạp và La Mã cổ. Tuy nhiên ban đầu ban đầu của quá trình nghiên cứu thực vật chỉ là sự quan sát, mô tả. Từ sự quan sát dẫn đến nhu cầu sắp xếp và phân loại các sự kiện đã thu thập được.
Phân loại học giai đoạn đầu mang tính chất nhân tạo vì chủ yếu dựa vào chủ quan của tác giả [13]. Người đầu tiên nghiên cứu về phân loại thực vật là Theophraste (371 — 2§6 TCN) với hai tác phẩm “Lịch sử thực vật” và “Bàn về cơ sở thực vật”, trong đó ông đã mô tả được 445 loài cây thường thấy ở Hy Lạp dựa trên đặc điểm hình thái, dạng sống, nơi sống và chú ý đến công dụng. Đến hơn 200 năm sau mới lại có công trình lớn về phân loại thực vật của nhà bác học người La Mã Plinus (79 - 23 TCN), 1.000 loài thực vật chủ yếu là cây làm thuốc và cây ăn quả đã được ông mô tả trong bộ “Lịch sử tự nhiên” đến đầu thế kỷ I sau công nguyên (20 — 60) tác giả Dioscoride đã mô tả 500 loài cây và nhóm thành các họ trong cuốn “Nguyên liệu làm thuốc” [13, 20]. 14 Năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được ở miền Bắc có 5.190 loài, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài của miền Bắc lên 5.609 loài, 1660 chỉ và 140 họ xếp theo hệ thống của Engle [16].
Từ 1969 - 1976 Lê Khả Kế (chủ biên) đã cho xuất bản bộ “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập [10]. Để phục vụ công tác nghiên cứu, năm 1971 — 1988 Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố bộ “Cây gỗ rừng Việt Nam” gồm 7 tập [23]. Thái Văn Trừng (1978) với công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã công bố 1.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.660 chi và 140 ho [21]. Nguyễn Tiến Ban, Tran Dinh Dai, Phan Kế Lộc cùng các tác giả khác (1984) trong Danh lục thực vật Tây Nguyên đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch [3].
Nguyễn Nghĩa Thìn, Trần Minh cùng các cộng sự đã công bố Danh lục thực vật Cúc Phương 1.944 loài thực vật bậc cao [19].