Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thuế TNDN dựa trên, tỷ lệ thuế suất thuế TNDN (Effective tax rate) và dữ liệu tài chính của các doanh nghiệp bắt đầu với nghiên cứu của Siegfried (1974) ở Mỹ. Sau đó, mô hình nghiên cứu thuế TNDN này tiếp tục được các nhà nghiên cứu mở rộng trên cơ sở lý thuyết thực chứng. Điển hình như tác giả Stickney và McGee (1982), Zimmerman (1983), Harberger (1959). Đứng trên quan điểm hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều tác giả trên thế giới đã tiếp tục ứng dụng và mở rộng mô hình lý thuyết vào phân tích các doanh nghiệp ở nhiều vùng địa lý khác nhau như: Úc, Canada, Châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Trên cơ sở lập luận cho đề tài nghiên cứu, tác giả xin tóm tắt lại một số nghiên cứu điển hình về thuế TNDN đã được thực hiện trên thế giới: Tác giả Siegfried (1974) nghiên cứu đề tài “Effective average US corporation income tax rates” tạm dịch là nghiên cứu về tỷ lệ thuế TNDN thực tế ở Mỹ. Đề tài tập trung nghiên cứu về sự tác động của quy mô doanh nghiệp lên chi phí thuế TNDN (ETR). Trong nghiên cứu, ông đưa ra giả thuyết cho rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì có thể có chi phí thuế TNDN nhỏ hơn các doanh nghiệp nhỏ khác bởi vì các lý do sau: các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì có nguồn lực tài chính càng mạnh để có thể đầu tư vào chuyên gia tư vấn thuế thông qua đó tiết kiệm được tiền thuế phát sinh phải nộp. Hai là các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia có thể tận dụng thế mạnh về nguồn lực của mình để lập kế hoạch về thuế (tax planning), sắp xếp, phân bổ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình để có thể tiết kiệm tối đa chi phí thuế phải nộp.
Ông được xem như là người đầu tiên đưa ra cơ sở lý luận về lý thuyết quyền lực chính trị (Political power theory) để xem xét mối tương quan nghịch chiều giữa biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) và tỷ lệ thuế TNDN trung bình (ETR). Để chứng minh cho lý luận của mình ông thực hiện nghiên cứu hồi quy trên các doanh nghiệp trong ngành sản xuất từ năm 1970-1972 ở Mỹ và đo lường chi phí thuế TNDN bằng tỷ lệ thuế suất thuế TNDN trung bình. 7 Kết quả nhận được phù hợp với cơ sở lý luận, ông đưa ra kết luận các doanh nghiệp lớn sẽ tận dụng năng lực tài chính của mình để tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán, chính sách thuế có lợi với mình để làm giảm cơ sở thuế, cũng như việc thực hiện kế hoạch thuế (tax planning) điển hình như chuyển giá (transfer pricing) để tiết kiệm tối đa chi phí thuế phải nộp. Hai Tác giả Stickney và McGee (1982) nghiên cứu với đề tài “Effective coporate tax rate: the effect of size, capital intensity, leverage, and other factors” tạm dịch là nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô, cấu trúc tài sản, hệ số nợ và các nhân tố khác đến tỷ lệ thuế suất thuế TNDN thực tế (ETR).
Trong nghiên cứu thực nghiệm, hai ông dùng các biến nhân tố ảnh hưởng như quy mô doanh nghiệp (SIZE), tỷ lệ tài sản dài hạn trên tổng tài sản (CI), hệ số nợ trên tổng tài sản (LEV) và biến giả nếu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động trong ngành sản xuất. Dữ liệu nghiên cứu của hai ông là dựa trên số liệu BCTC thường niên của các doanh nghiệp từ năm 1978-1980 ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu của hai ông cho thấy những doanh nghiệp có tỷ lệ thuế TNDN thấp nhất (ETR thấp nhất) thường rơi vào các doanh nghiệp có sử dụng nợ nhiều. Điều này có nghĩa là giữa chi phí thuế TNDN và biến hệ số nợ (LEV) có mối tương quan nghịch chiều mạnh nhất.
Bởi vì ở Mỹ, chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ trước khi tính thuế TNDN. Vì vậy, doanh nghiệp nào có khả năng vay nợ được càng nhiều để tài trợ cho dự án sản xuất-kinh doanh thì các doanh nghiệp này sẽ có lợi ích từ lá chắn thuế để làm giảm cơ sở thuế (thu nhập tính thuế) và từ đó giảm chi phí thuế TNDN phải nộp. Bên cạnh đó, hai ông cũng tìm thấy mối tương quan giữa một số nhân tố khác đến chi phí thuế TNDN như doanh nghiệp sẽ có tỷ lệ thuế suất thuế TNDN (ETR) nhỏ hơn thường có tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và hoạt động trong ngành sản xuất. Ngoài ra, họ tìm thấy mối tương quan cùng chiều yếu giữa biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) và tỷ lệ thuế TNDN thực tế (ETR).
Như vậy, ở mô hình này các giả đã vận dụng thêm được lý thuyết về cơ cấu vốn tối ưu trong việc xây dựng biến nhân tố ảnh hưởng đến chi 8 phí thuế TNDN để từ đó đưa ra thêm được một số giải pháp giúp doanh nghiệp nhằm tận dụng chính sách thuế để làm giảm chi phí thuế TNDN. Tác giả Zimmerman (1983), thực hiện nghiên cứu với tên là “Taxes and Firm size” tạm dịch là thuế và quy mô doanh nghiệp. Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng mô hình hồi quy kinh tế lượng để xem xét mối tương quan giữa quy mô doanh nghiệp (SIZE), biến giả ngành nghề kinh doanh lên chi phí thuế TNDN từ việc đo lường tỷ lệ thuế suất thuế TNDN (ETR). Zimmerman sử dụng mô hình chuỗi thời gian để đo lường chi phí thuế TNDN (ETR) từ năm 1974-1981 ở Mỹ để kiểm tra giả thuyết quy mô doanh nghiệp (SIZE) ảnh hưởng cùng chiều đến chi phí thuế TNDN.
Khác với tác giả Siegfried (1972) đưa ra lý thuyết quyền lực chính trị (political power theory) để ủng hộ mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô doanh nghiệp (SIZE) và chi phí thuế TNDN. Tác giả Zimmerman, lại ủng hộ quan điểm của lý thuyết chi phí chính trị (political cost theory) của Jensen và Meckling (1976) khi cho rằng một doanh nghiệp khi có quy mô càng lớn và hoạt động đầu tư có khả năng sinh lời càng lớn thì càng tạo được nhiều sự chú ý ở khu vực Nhà nước, cũng như các nhóm hưởng lợi ích khác. Bởi vì thuế TNDN là một phần quan trọng trong chi phí chính trị, là công cụ đắc lực của Nhà nước để phân phối lại thu nhập trong xã hội và tạo nguồn thu ngân sách đóng góp cho địa phương, cũng như nước nhà. Do đó, doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì sẽ có chi phí thuế TNDN cũng lớn hơn.
Kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết được đặt ra, giữa quy mô (SIZE) và chi phí thuế TNDN có mối tương quan dương cùng chiều, đặc biệt trong ngành công nghiệp khai thác dầu, một ngành công nghiệp cạnh tranh độc quyền có tỷ lệ thuế suất thuế TNDN cao nhất. Các nghiên cứu sau đó của các tác giả Willkie và Limberg (1990), Kern và Morris (1992) cũng đã chứng minh lý thuyết chi phí chính trị của Zimmerman là đúng và phù hợp với thực tế. Như vậy, nghiên cứu này như góp phần bổ sung vào sự đa dạng cho cơ sở lý thuyết nghiên cứu nhân tố tác động đến chi phí thuế TNDN cho các nghiên cứu ở Mỹ và các nước trên thế giới. 9 Gupta và Newberry (1997), nghiên cứu đề tài “Determinants of the variability of effective tax rates: evidence from longitudinal data” tạm dịch các nhân tố tác động đến tỷ lệ thuế suất thuế TNDN thực tế.
Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về nguyên nhân gây ra sự khác biệt chi phí thuế TNDN thông qua tỷ lệ thuế suất thuế TNDN thực tế (ETR). Kết quả nghiên cứu hồi quy cho thấy giữa ETR và biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) không có sự tương quan. Tuy nhiên, tỷ lệ thuế suất thuế TNDN thực tế có tương quan âm đến cấu trúc vốn (LEV) và cấu trúc tài sản (CI) của DN. Điều này có nghĩa là, doanh nghiệp nào có tỷ lệ tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì có chi phí khấu hao tài sản càng nhiều và chi phí khấu hao là một chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN.
Do đó, chi phí này sẽ làm giảm cơ sở tính thuế TNDN và giảm chi phí thuế TNDN phải nộp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có tài sản cố định càng nhiều càng có nhiều cơ hội đáp ứng điều kiện về vay vốn để mở rộng đầu tư, sản xuất và chi phí lãi vay này cũng là một chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN. Do đó, doanh nghiệp sẽ tận dụng lợi ích này từ để tiết kiệm được tiền thuế TNDN phải nộp. Tác giả Harberger (1959) thực hiện nghiên cứu đề tài “The illicit asset stripping of Chinese state firms” tạm dịch là nghiên cứu về việc tước bỏ tài sản bất hợp pháp của các công ty nhà nước Trung Quốc nhận thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, dệt may, dầu mỏ và khai thác than đá đóng thuế TNDN thấp hơn nhiều so với các công ty khác.
Một tác giả khác là Rosenberg (1969) đã nhân rộng nghiên cứu này và đưa ra một kết luận tương tự. Thực tế, việc nghiên cứu lý luận tác động ngành nghề kinh doanh đến chi phí thuế TNDN đã được hai tác giả Stickney và McGee giải thích trong nghiên cứu của mình. Một trong những nguyên nhân chính của sự tác động này chủ yếu là do các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành cần thiết phải có khoản đầu tư giữ lại phục vụ cho việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng thay đổi công nghệ vào tư liệu sản xuất để nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành, cạnh tranh, chất lượng sản phẩm hoặc các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, tài nguyên đặc thù cần có sự đầu tư và 10 phát triển máy móc phục vụ cho việc khai thác. Theo chính sách thuế TNDN, thì doanh nghiệp được phép trích lập quỹ đầu tư và phát triển (R&D) này trên cơ sở thuế trước khi tính thuế TNDN.
Do đó, các doanh nghiệp này có chi phí thuế TNDN thấp hơn các doanh nghiệp khác.