CHƯƠNG 1. Lịch sử nghiên cứu và hệ thống học chi Mộc hương (Aristlochia L.) trên thế giới Chi Mộc hương (Aristolochia) là chi lớn nhất của họ Mộc hương (Aristolochiaceae), thuộc bộ Hồ tiêu (Piperales) (Wagner et al. Chi này được C. Trong đó, tác giả đi sâu phân tích một số đặc điểm hình thái của lá và thân trong chi Mộc hương.
Trong cuốn “Systema Nature” (1767), tác giả bổ sung thêm 5 loài so với nghiên cứu đã công bố trước đó, đưa tổng số loài của chi Mộc hương lên 20 loài. Trên cơ sở đặc điểm hình thái và cấu trúc của bộ nhị - nhụy (gynostemium) tác giả lần đầu đề xuất hệ thống học chi Mộc hương, bao gồm 2 nhóm (tương đương phân chi): nhóm gynostemium 3 thùy và nhóm gynostemium 6 thùy. Trong đó, nhóm gynostemium 3 thùy được chia làm 3 section: Asterolytes, Siphisia và Hexondon; 3 nhóm này phân biệt nhau ở đặc điểm hình thái của ống bao hoa. Nhóm với cấu trúc gynostemium 6 thùy được phân chia thành 2 section: Gymnolobus và Diplolobus dựa vào đặc điểm hình thái của ống bao hoa và cánh môi.
Trong quá trình nghiên cứu phân loại họ Mộc hương (Aristolochiaceae), F. Klotzsch (1859) đã xây dựng một hệ thống phân loại mới cho tông Aristolochieae. Theo đó, tông Aristolochieae gồm 2 phân tông với 05 chi (Aristolochia, Endodeca, Siphisia, Einomeida và Howardia. Trong đó, chi Aristolochia gồm 2 phân chi: Euaristolochia và Podanthemum; chi Siphisia gồm 4 phân chi: Eusiphisia, Nepenthesia, Pentodon và Bracthycalyx [31].
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thống kê các hệ thống học chi Mộc hương (Aristolochia L.) Hệ thống Chi Phân chi Section Subsection phân loại 1. Siphisia thùy Duchartre 3. Bracthycalyx LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Diplolobus Bentham et. Polyanthera Aristolochia Hooker (1880) 3. Cánh môi 2 thùy, phiến lá hình tim B. Cánh môi 2 thùy; phiến lá hình ovan, Schmidt (1935) Aristolochia 1.
Cánh môi hình chuông, 3 thùy hẹp D. Cánh môi 3 thùy có đuôi dài; gốc lá hình ovan đến mác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cánh môi hình phễu, với 5 thùy riêng biệt 3. Hexodon Ma (1989) Aristolochia 4.
Pararistolochia 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bentham et Hooker (1880), trên cơ sở đặc điểm hình thái và sự khác nhau giữa cấu tạo của bao hoa, tác giả đã phân chia họ Aristolochiaceae trong 5 chi: Asarum, Bragantia, Thottea, Holostylis và Aristolochia. Trong đó chi Aristolochia gồm 4 phân chi: Diplolopus, Polyanthera, Gymnolobus và Siphisia; các phân chi này phân biệt với nhau bởi cấu tạo bao hoa, ống bao hoa và gynostemium [9]. Nghiên cứu hệ thống học, phân bố và phân loại chi này tại khu vực Đông và Đông Á, dựa trên cơ sở các hệ thống phân loại của Duchartre (1854, 1864) và Schmidt (1935), Ma (1989) đã sắp xếp 68 loài Mộc hương ở khu vực Đông và Đông Á trong 3 phân chi: Siphisia, Pararistolochia và Aristolochia. Trong đó phân chi Siphisia gồm 3 nhánh Asterolytes, Siphisia và Hexodon; phân chi Aristolochia gồm 2 nhánh là Gymnolobus và Diplolobus; phân chi Pararistolochia phân bố duy nhất ở khu vực Malaysia và châu Đại Dương (Úc).
Tác giả cũng chỉ ra khu vực phía Nam Trung Quốc là trung tâm đa dạng của chi này, tuy nhiên trong tài liệu chỉ có 6 loài được ghi nhận cho hệ thực vật Việt Nam [11],[23],[24],[25],[26]. Hwang et al. Ngày nay, ứng dụng kĩ thuật sinh học phân tử đã đóng góp đáng kể trong nghiên cứu hệ thống học thực vật, tiến hóa, mối quan hệ phát sinh chủng loại và đa dạng nguồn gen. Trong các phương pháp sinh học phân tử khác nhau đã được sử dụng, giải trình tự DNA (Deoxyribo Nucleic Acid) đã trở thành ứng dụng rộng rãi, bao gồm số lượng lớn của các trình tự lặp lại trong toàn bộ hệ gen đã được giải mã thông qua các phản ứng chuỗi trùng hợp hay phản ứng khuếch đại gen PCR (Polymerase Chain Reaction) với cặp mồi thích hợp (Hillis et al., 1996; Philip et al.
Mức độ biến đổi trình tự trong vùng gen mã hóa và các vùng đệm - vùng không mã hóa của nhiều gen lục lạp và gen nhân đã được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu hệ thống học và mối quan hệ phát sinh chủng loại ở thực vật (Chase et al., 1993; Clegg et al. Nghiên cứu mối quan hệ phát sinh chủng loại trong phạm vi họ Mộc hương (Aristolochiaceae) hoặc giữa các họ trong bộ Hồ tiêu (Piperales) đã được thực hiện trong suốt hai thập kỉ qua trên cơ sở đặc điểm hình thái hoặc kết hợp giữa đặc điểm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thái và dữ liệu phân tử. Murata et al. (2001) và Ohi-Toma et al.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phần lớn không thể hiện mối quan hệ phát sinh của các loài được nghiên cứu. Những phân tích về mối quan hệ phát sinh chủng loại của họ Aristolochiaceae hoặc phân họ Aristolochioideae trên cơ sở đặc điểm hình thái học (González & Stevenson, 2002) hay dữ liệu phân tử (trnL intron, trnL-trnF spacer) (Neinhuis et al., 2005) cũng duy nhất bộc lộ đơn phát sinh dòng (monophyly) của một vài chi đã được ghi nhận trước đó[18],[28]. Kể từ khi gene matK có thể dễ dàng nhân bản cùng với phần intron liền kề trnK, vùng trnK-matK đã được sử dụng trong nghiên cứu mối quan hệ phát sinh loài ở chi Aristolochia (Wanke et al. Kết quả nghiên cứu không chỉ ủng hộ quan điểm trước đó khi phân chia chi Aristolochia trong 3 phân chi (Aristolochia, Siphisia và Pararistolochia), và cũng thể hiện mối quan hệ phát sinh loài ở một số nhánh chính (Hình 1.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mối quan hệ phát sinh và hệ thống học chi Mộc hương (Aristolochia) (dựa trên nghiên cứu kết hợp đặc điểm hình thái và dữ liệu phân tử của vùng gen trnK-matK (Wanke et al., 2006)) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu chi Mộc hương (Aristolochia L.) ở Việt Nam Chi Mộc hương đã được nghiên cứu khá đầy đủ về mặt hệ thống học và phân loại học ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malesiana và Thái Lan. Tuy nhiên, ở Việt Nam còn thiếu những nghiên cứu phân loại chi Mộc hương một cách có hệ thống. Franchet (1898) là người đầu tiên nghiên cứu chi Mộc hương ở Việt Nam và vùng lân cận, tác giả đã mô tả 3 loài mới của chi này ở khu vực Đông Dương, trong đó duy nhât 1 loài cho khu hệ thực vật Việt Nam (A.
Kể từ thời điểm đó, không có loài mới nào của chi Mộc hương được phát hiện và mô tả ở Việt Nam. Tuy nhiên một số loài được ghi nhận thêm vùng phân bố cho khu hệ thực vật Việt Nam bởi các nghiên cứu sau đó của các nhà thực vật bản địa. Đỗ Tất Lợi (1999) đã liệt kê 2 loài Mộc hương cho hệ thực vật Việt Nam, trong đó loài A. heterophylla đc dùng như vị thuốc chữa các chứng thủy thũng, phong thũng, cước khí thấp thũng [7].
Phạm Hoàng Hộ (2000) đã liệt kê và mô tả sơ bộ đặc điểm 11 loài của chi Mộc hương ở Việt Nam, sau đó Nguyễn Tiến Bân (2003) đã bổ sung thêm 2 loài (A. How ex Liang and A.) cho khu hệ thực vật Việt Nam [5],[1]. Tuy nhiên danh pháp khoa học, đặc điểm phân loại và giới hạn loài của các loài kể trên là chưa rõ ràng. Đỗ Văn Trường (2015) khi nghiên cứu hệ thống học và tiến hóa của chi Mộc hương ở Việt Nam và vùng lân cận đã chỉ ra rằng, chi này ở Việt Nam được phân chia trong 2 phân chi (Aristolochia và Siphisia) gồm khoảng hơn 25 loài.
Tuy nhiên tác giả mới chỉ đề cập đến một số loài Mộc hương mới được mô tả gần đây (Huong et al., 2014; Do et al., 2014a; 2015a; 2015c; 2015d)) với phần lớn các loài thuộc phân chi Siphisia [21],[32],[13],[14],[15]. Gần đây, Đỗ Văn Trường & cs. cũng phát hiện và mô tả thêm một số loài Mộc hương mới cho khoa học thế giới (Do et al. 2017, 2018), cũng như những ghi nhận mới bổ sung cho khu hệ thực vật Việt Nam (Do 2016).
Thêm vào đó, tác giả cũng xem xét lại danh pháp và phân loại một số loài Mộc hương đã được ghi nhận trước đó ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một số loài của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chi Mộc hương như: A. acuminata lần lượt bị định loại nhầm với các loài A. heterophylla (synonym của A.
zollingeriana (Đỗ Tất Lợi (1999), Võ Văn Chi & Trần Hợp (2001), Nguyễn Tiến Bân (2003), Võ Văn Chi (2011)) vẫn chưa được ghi nhận ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng loài A. indica không có vùng phân bố tự nhiên ở Việt Nam, loài này có thể được trồng ở Vườn Bách Thảo Sài Gòn do đó, việc đánh giá ở mức độ Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam, phần thực vật (2007) là không cần thiết. Với những phát hiện mới của chi Mộc hương thì việc nghiên cứu phân loại chi Mộc hương ở Việt Nam là cần thiết để đánh giá đúng tính đa dạng và giới hạn của mỗi loài, làm cơ sở cho công tác định loại mẫu vật.
Về giá trị sử dụng, theo các nhà thực vật Việt Nam, một số loài của chi Mộc hương có giá trị làm thuốc. Kết quả nghiên cứu của Viện Dược liệu (2016) ghi nhận 10 loài Mộc hương có giá trị làm thuốc. Tuy nhiên, một số loài trong danh sách này cần được định loại và nghiên cứu lại [6]. Như vậy, Ở Việt Nam bước đầu đã có một số công trình nghiên cứu về chi Mộc hương, tuy nhiên những nghiên cứu đó hoặc mô tả ngắn gọn, thiếu thông tin phân loại (Phạm Hoàng Hộ, 2000) hoặc mới chỉ liệt kê thành phần loài (Nguyễn Tiến Bân, 2003) hoặc mới chỉ tập trung vào mô tả một số taxon mới cho khoa học thể giới (Huong et al., 2014; Do et al.
Vì vậy, còn thiếu những nghiên cứu phân loại một cách hệ thống của chi này ở Việt Nam. Hơn nữa, những phát hiện loài mới của chi Mộc hương gần đây không chỉ làm tăng số lượng loài ở Việt Nam, nhưng cũng khẳng định tính đa dạng và tiềm năng cho phát hiện các loài Mộc hương mới cho khoa học. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn này bao gồm: a) Các loài thuộc chi Mộc hương (Aristolochia L.) ở Việt Nam b) Các mẫu tiêu bản thuộc chi Mộc hương (Aristolochia L.) ở Việt Nam đang được lưu giữ tại các phòng tiêu bản trong và ngoài nước. Các mẫu tiêu bản của chi Mộc hương (Aristolochia L.) được thu thập trong các đợt điều tra và khảo sát ngoài thực địa.