Tổng quan nghiên cứu
Năm 2002, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt mức 439,5 USD, dù đã có bước tăng trưởng vượt bậc so với mức 220 USD của năm 1995 nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhiều quốc gia láng giềng trong khu vực như Thái Lan với 2.085 USD hay Malaysia với 3.230 USD. Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn để đổi mới máy móc, thiết bị kỹ thuật tại các doanh nghiệp trở nên vô cùng cấp thiết. Mặc dù vậy, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn chiếm tỷ trọng trên 90% tổng số doanh nghiệp cả nước, gặp rất nhiều rào cản khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng truyền thống do thiếu tài sản thế chấp.
Nghiên cứu tập trung giải quyết điểm nghẽn này thông qua việc phân tích toàn diện công cụ cho thuê tài chính tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, tiếp thu bài học kinh nghiệm từ thị trường thế giới nơi quy mô cho thuê tài sản đạt giá trị giao dịch khoảng 350 tỷ USD từ năm 1994, đồng thời đánh giá thực trạng vận hành của hệ thống 9 công ty cho thuê tài chính trong nước giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2003. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc đề xuất các giải pháp khả thi giúp khơi thông kênh dẫn vốn đầu tư máy móc, giảm bớt áp lực thế chấp bất động sản và thúc đẩy tốc độ đổi mới công nghệ cho cộng đồng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết trung gian tài chính và các mô hình tài trợ tài sản cố định hiện đại. Hệ thống phân loại giao dịch được đối chiếu trực tiếp với Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17 và chuẩn mực của Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Tài chính Hoa Kỳ FASB. Theo đó, một giao dịch được xác định là cho thuê tài chính khi thỏa mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn: chuyển giao quyền sở hữu tài sản khi kết thúc hợp đồng; hợp đồng có điều khoản quyền chọn mua với giá danh nghĩa; thời hạn thuê chiếm từ 75% trở lên thời gian hữu dụng của tài sản; hoặc hiện giá các khoản tiền thuê tối thiểu tương đương 90% giá trị hợp lý của tài sản.
Về phương diện pháp lý trong nước, đề tài phân tích khung quy định từ Nghị định 64/CP năm 1995, Quyết định 149/QĐ-NH5 và Nghị định 16/2001/NĐ-CP để chuẩn hóa các khái niệm then chốt như cho thuê tài chính, cho thuê hoạt động, và thuê mua trả góp. Bốn mô hình nghiệp vụ chính được luận giải gồm: mô hình tài trợ hai bên; mô hình ba bên tiêu chuẩn; mô hình cho thuê hợp tác (leveraged lease) ứng dụng cho tài sản quy mô lớn như thương vụ ngành hàng không thuê mua 2 máy bay ATR 72 trị giá 20 triệu USD; và mô hình bán và cho thuê lại (sale and leaseback). Về kế toán, đề tài làm rõ việc hạch toán chi phí tiền thuê qua tài khoản 142 và trích khấu hao tài sản cố định thuê tài chính qua tài khoản 212 theo quy định của Bộ Tài chính.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và tư duy hệ thống làm nền tảng, kết hợp chặt chẽ giữa các thao tác diễn dịch và quy nạp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp chính quy từ các báo cáo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, Niên giám Thống kê giai đoạn 1995 đến 2002, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn bộ cỡ mẫu tổng thể gồm 9 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động trên thị trường, bao gồm 5 công ty trực thuộc các ngân hàng thương mại quốc doanh lớn như VCBLC, ICBLC, ALC I, ALC II, BIDVLC và các công ty liên doanh quốc tế như VILC, KVLC, ANZ V-Trac, VLC. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu 120 doanh nghiệp khách hàng và tổ chức tín dụng nhằm thu thập đánh giá thực tế. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chỉ tiêu tài chính và so sánh đối chiếu là vì thị trường cho thuê tài chính giai đoạn 1995 đến 2003 còn sơ khai, số lượng định chế trực tiếp tham gia chưa nhiều. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện 100% các đơn vị đang vận hành sẽ mang lại bức tranh thực chứng chuẩn xác nhất.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 1995 đến 2003 mang lại ba phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, quy mô hoạt động của ngành cho thuê tài chính còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của nền kinh tế. Dù hệ thống đã thành lập được 9 công ty, trong đó công ty liên doanh đầu tiên VILC có vốn điều lệ 5 triệu USD, tổng doanh số cho thuê tài chính vẫn chỉ chiếm tỷ trọng dưới 2% trên tổng dư nợ cho vay và cho thuê của toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn hoạt động của các công ty bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Khoảng 80% đến 85% nguồn vốn phục vụ kinh doanh của các công ty trong nước phụ thuộc vào vốn vay từ các ngân hàng thương mại mẹ. Nguồn vốn tự có và việc phát hành các công cụ nợ trung dài hạn trên thị trường chỉ đóng góp khiêm tốn dưới 15%, tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn rất lớn.
Thứ ba, nhu cầu đổi mới máy móc của doanh nghiệp rất cao nhưng rào cản tiếp cận vẫn lớn. Tỷ lệ hao mòn vô hình và lạc hậu kỹ thuật của các ngành sản xuất trong nước ước tính cao hơn khu vực khoảng 30%. Tuy nhiên, có tới hơn 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thể tiếp cận kênh này do mặt bằng lãi suất cho thuê bị đội thêm chi phí bù đắp rủi ro, cao hơn từ 1,5% đến 2,5%/năm so với lãi suất vay tín dụng thông thường.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên nằm ở sự thiếu đồng bộ của môi trường pháp lý. Hoạt động cho thuê tài chính thời kỳ này chủ yếu điều chỉnh bởi Nghị định 16/2001/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn rải rác mà chưa có Luật Cho thuê tài chính độc lập. Quy trình xử lý và thu hồi tài sản khi bên thuê vi phạm hợp đồng còn nhiều bất cập, thời gian giải quyết qua tòa án kéo dài từ 6 tháng đến 12 tháng khiến tài sản bị suy giảm giá trị cơ học nghiêm trọng, đẩy chi phí xử lý nợ lên cao.
Khi đối chiếu với các nền kinh tế phát triển, sự chênh lệch càng bộc lộ rõ rệt. Tại Hoa Kỳ, ngành cho thuê tài sản đạt giá trị 107,9 tỷ USD ngay từ năm 1987 với tốc độ tăng trưởng 7%/năm, tài trợ tới 25% đến 30% tổng lượng thiết bị mua sắm hàng năm. Tại Anh, quy mô toàn ngành đạt 49 tỷ Bảng vào năm 1993 với cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng khoảng 50%. Tại Việt Nam, thói quen kinh doanh chuộng nắm giữ quyền sở hữu thay vì khai thác quyền sử dụng tài sản đã làm chậm tiến trình xã hội hóa kênh tài trợ hiện đại này.
Về phương thức biểu diễn trực quan, các dữ liệu thực nghiệm trên có thể được trình bày rõ ràng qua biểu đồ hình cột so sánh tốc độ tăng trưởng doanh số của các công ty cho thuê tài chính qua từng năm, kết hợp với bảng ma trận cơ cấu nguồn vốn huy động nhằm làm nổi bật nút thắt thanh khoản. Ngoài ra, việc thiết lập biểu đồ đường phản ánh tương quan giữa tỷ lệ hao mòn công nghệ theo ngành và biến động biên độ lãi suất thuê sẽ giúp các nhà quản trị nhận diện chính xác áp lực chi phí của doanh nghiệp đi thuê.
Đề xuất và khuyến nghị
Để biến cho thuê tài chính thành đòn bẩy vốn thực sự cho công cuộc công nghiệp hóa, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý tiến tới xây dựng Luật Cho thuê tài chính. Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp cùng các bộ, ngành rà soát Nghị định 16/2001/NĐ-CP để soạn thảo dự án luật riêng biệt trong lộ trình 24 tháng. Mục tiêu trọng tâm là thiết lập cơ chế tố tụng đặc thù, rút ngắn thời gian cưỡng chế thu hồi tài sản thuê khi phát sinh vi phạm xuống dưới 30 ngày nhằm bảo đảm an toàn quyền tài sản cho bên cho thuê.
Thứ hai, đa dạng hóa nguồn vốn hoạt động và phát triển các công cụ nợ trung dài hạn. Ngân hàng Nhà nước cần ban hành hướng dẫn tạo điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính phát hành trái phiếu doanh nghiệp thời hạn 3 đến 5 năm, đồng thời mở rộng tiếp cận nguồn vốn ủy thác quốc tế từ các tổ chức tài chính như IFC. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng nguồn vốn tự huy động độc lập từ thị trường lên tối thiểu 40% trong vòng 3 năm tới.
Thứ ba, mở rộng và chuẩn hóa danh mục sản phẩm dịch vụ. Các công ty cho thuê tài chính cần chủ động triển khai nghiệp vụ bán và cho thuê lại (sale and leaseback) nhằm hỗ trợ chuyển hóa tài sản cố định thành vốn lưu động cho doanh nghiệp. Đồng thời, liên kết thực hiện các hợp đồng cho thuê hợp tác (leveraged lease) tài trợ các phương tiện vận tải và dây chuyền sản xuất lớn trị giá từ 10 triệu USD đến 20 triệu USD, hướng tới mục tiêu tăng trưởng doanh số sản phẩm mới đạt 20% mỗi năm.
Thứ tư, nâng cao năng lực thẩm định và kiểm soát rủi ro nội bộ. Ban điều hành các công ty cho thuê tài chính cần đổi mới quy trình thẩm định tín dụng, tập trung phân tích dòng tiền thực tế và hiệu quả sinh lời của thiết bị thay vì phụ thuộc vào tài sản bảo đảm truyền thống. Song song đó, chuẩn hóa công tác phân loại nợ nhằm duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 3% trong vòng 18 tháng tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:
Thứ nhất, các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Luận văn cung cấp giải pháp tiếp cận vốn tài trợ lên tới 100% giá trị thiết bị mới mà không cần thế chấp bất động sản, kết hợp phương pháp khai thác khấu hao nhanh theo Quyết định 1062 TC/QĐ/CSTC để tối ưu hóa nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn đầu tư mở rộng.
Thứ hai, ban giám đốc và chuyên viên nghiệp vụ tại các công ty cho thuê tài chính. Tài liệu là cẩm nang phân tích quy trình 6 bước từ phê duyệt hồ sơ đến quản lý tài sản, cách thức định giá tiền thuê, phương pháp xử lý giá trị còn lại và kinh nghiệm thiết lập quỹ dự phòng rủi ro bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn.
Thứ ba, cơ quan hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Hệ thống dữ liệu thực tế từ 9 công ty cho thuê tài chính cung cấp căn cứ vững chắc để hoàn thiện quy chế cấp phép, điều hành chính sách tiền tệ và xây dựng các tiêu chuẩn an toàn tài chính cho các định chế phi ngân hàng.
Thứ tư, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Tài chính - Ngân hàng. Đề tài đóng vai trò nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu về tài trợ dự án có cấu trúc, giúp đối chiếu chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 với thực tiễn chuyển đổi thể chế kinh tế tại Việt Nam qua các mốc thời gian từ năm 1995 đến năm 2003.
Câu hỏi thường gặp
Điểm khác biệt căn bản giữa cho thuê tài chính và vay tín dụng ngân hàng truyền thống là gì?
Trong cho thuê tài chính, bên cho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và có thể tài trợ tối đa 100% giá trị máy móc mà không bắt buộc bên thuê phải có tài sản bảo đảm bổ sung. Ngược lại, vay ngân hàng truyền thống đòi hỏi doanh nghiệp phải có bất động sản thế chấp và thường chỉ được giải ngân từ 70% đến 80% tổng nhu cầu vốn.
Doanh nghiệp đi thuê được hưởng lợi thế thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào?
Căn cứ Quyết định 1062 TC/QĐ/CSTC và Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT, bên thuê được phân bổ lãi thuê vào chi phí hoạt động qua tài khoản 142 và trích khấu hao tài sản thuê qua tài khoản 212 theo đúng thời hạn hợp đồng. Do thời hạn thuê thường ngắn hơn thời gian hữu dụng thực tế, doanh nghiệp có thể tăng chi phí khấu hao hợp lý để hoãn nộp thuế thu nhập trong 2 đến 3 năm đầu.
Khi nào doanh nghiệp nên áp dụng nghiệp vụ bán và cho thuê lại?
Doanh nghiệp nên sử dụng phương thức này khi cần bổ sung vốn lưu động đột xuất nhưng vẫn phải duy trì vận hành dây chuyền máy móc hiện có. Thông qua việc bán tài sản cho bên cho thuê rồi thuê lại, doanh nghiệp có thể giải phóng ngay 70% đến 90% giá trị tài sản thành tiền mặt mà không làm gián đoạn kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Vì sao các công ty cho thuê tài chính giai đoạn 1995 đến 2003 gặp khó khăn về nguồn vốn?
Do thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp thời kỳ này chưa phát triển, hơn 80% vốn kinh doanh của các công ty phải đi vay từ ngân hàng thương mại mẹ. Sự phụ thuộc này khiến các công ty chịu chi phí vốn cao và đối mặt với rủi ro chênh lệch kỳ hạn khi phải tài trợ các hợp đồng thuê mua kéo dài từ 3 đến 7 năm.
Tiêu chuẩn quốc tế nào được áp dụng phổ biến nhất để xác định giao dịch cho thuê tài chính?
Chuẩn mực IAS 17 và tiêu chuẩn FASB quy định giao dịch là thuê tài chính nếu thỏa mãn ít nhất một trong các tiêu chí: chuyển giao quyền sở hữu khi hết hạn thuê, có quyền chọn mua với giá danh nghĩa, thời hạn thuê tối thiểu đạt 75% thời gian hữu dụng, hoặc hiện giá các khoản tiền thuê đạt từ 90% giá trị tài sản trở lên.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về cho thuê tài chính, đối chiếu chuẩn mực quốc tế IAS 17 với thực tiễn thị trường toàn cầu có quy mô trên 350 tỷ USD.
- Phân tích thực chứng toàn diện hoạt động của 9 công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân khiến doanh số thuê mua chỉ chiếm dưới 2% tổng dư nợ toàn ngành.
- Khẳng định vai trò xung kích của công cụ thuê tài chính trong việc giải bài toán vốn công nghệ khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2002 mới đạt 439,5 USD.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ với lộ trình 24 đến 36 tháng nhằm ban hành Luật Cho thuê tài chính và nâng tỷ trọng vốn tự huy động lên mức 40%.
- Kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề chủ động khai thác kênh tài trợ thuê mua tài sản để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế.