Luận văn thạc sĩ hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực văn hóa 1897 1945

Luận văn thạc sĩ phân tích hoạt động của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa giai đoạn 1897-1945, làm rõ vai trò và đóng góp quan trọng.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ Hoạt Động Của Trí Thức Việt Nam Trong Lĩnh Vực Văn Hóa Giai Đoạn 1897 1945

Luận Văn Thạc Sĩ này tập trung nghiên cứu Hoạt Động Trí Thức của Trí Thức Việt Nam trong Lĩnh Vực Văn Hóa giai đoạn 1897-1945. Đây là giai đoạn lịch sử quan trọng khi Văn Hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn minh phương Tây. Trí Thức Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc tiếp thu và truyền bá văn hóa mới, góp phần xây dựng nền văn hóa dân tộc hiện đại. Lịch Sử Văn HóaNghiên Cứu Văn Hóa là hai khía cạnh chính được phân tích sâu trong luận văn.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Và Chính Sách Văn Hóa Thời Pháp Thuộc

Giai đoạn 1897-1945 là thời kỳ Văn Hóa Giai Đoạn Thuộc Địa với sự thống trị của thực dân Pháp. Chính Sách Nô Dịch của Pháp nhằm đồng hóa văn hóa Việt Nam, nhưng cũng tạo điều kiện cho Trí Thức Việt Nam tiếp cận với văn minh phương Tây. Trí Thức Thời Kỳ Pháp Thuộc đã chủ động tiếp nhận và chuyển hóa văn hóa phương Tây, tạo nên sự giao thoa văn hóa Đông-Tây. Văn Hóa Và Xã Hội thời kỳ này chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và hành động của giới trí thức.

1.2. Khái Quát Về Trí Thức Việt Nam Giai Đoạn 1897 1945

Trí Thức Việt Nam giai đoạn này bao gồm cả trí thức Nho học và Tân học. Họ là những người tiên phong trong việc tiếp thu và truyền bá Văn Hóa Dân Tộc mới. Lịch Sử Trí Thức ghi nhận sự đóng góp lớn lao của họ trong việc xây dựng nền văn hóa hiện đại, đặc biệt là qua các Phong Trào Văn Hóa như truyền bá chữ Quốc ngữ, phát triển văn học, báo chí, và nghệ thuật. Trí Thức Và Văn Hóa là mối quan hệ không thể tách rời trong giai đoạn này.

II. Hoạt Động Của Trí Thức Việt Nam Trong Lĩnh Vực Văn Hóa

Hoạt Động Trí Thức trong Lĩnh Vực Văn Hóa giai đoạn 1897-1945 được thể hiện qua nhiều hình thức đa dạng. Trí Thức Việt Nam đã tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa, từ truyền bá chữ Quốc ngữ đến phát triển văn học, báo chí, và nghệ thuật. Văn Hóa Việt Nam thời kỳ này chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ, với sự kết hợp giữa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa phương Tây.

2.1. Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ Và Phát Triển Văn Học

Trí Thức Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ, biến nó thành công cụ hữu hiệu trong Hoạt Động Văn Hóa. Giai đoạn 1897-1930 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam, với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm văn học hiện đại. Trí Thức Và Văn Hóa giai đoạn này đã tạo nên một nền văn học mới, phản ánh tinh thần dân tộc và khát vọng độc lập.

2.2. Phát Triển Báo Chí Và Nghệ Thuật

Báo chí và nghệ thuật là hai lĩnh vực nổi bật trong Hoạt Động Trí Thức giai đoạn 1897-1945. Trí Thức Việt Nam đã sử dụng báo chí như một công cụ tuyên truyền và giáo dục, góp phần thức tỉnh ý thức dân tộc. Trong lĩnh vực nghệ thuật, Trí Thức Việt Nam đã tiếp thu và phát triển các hình thức nghệ thuật mới, từ kiến trúc, hội họa đến âm nhạc và sân khấu. Văn Hóa Và Xã Hội thời kỳ này được làm phong phú nhờ những đóng góp này.

III. Đánh Giá Và Đóng Góp Của Trí Thức Việt Nam Trong Lĩnh Vực Văn Hóa

Hoạt Động Trí Thức trong Lĩnh Vực Văn Hóa giai đoạn 1897-1945 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Trí Thức Việt Nam không chỉ góp phần xây dựng nền văn hóa hiện đại mà còn thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc. Văn Hóa Việt Nam thời kỳ này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế.

3.1. Đặc Điểm Hoạt Động Văn Hóa Của Trí Thức

Hoạt Động Văn Hóa của Trí Thức Việt Nam giai đoạn 1897-1945 có nhiều đặc điểm nổi bật. Họ chủ động tiếp nhận văn hóa phương Tây, đồng thời bảo tồn và phát huy Văn Hóa Dân Tộc. Trí Thức Và Văn Hóa giai đoạn này đã tạo nên sự tiếp biến văn hóa toàn diện, mở đường cho nhiều thể loại văn hóa hiện đại. Phong Trào Văn Hóa thời kỳ này đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

3.2. Đóng Góp Của Trí Thức Trong Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới

Trí Thức Việt Nam giai đoạn 1897-1945 đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới. Họ tiên phong trong việc tiếp thu và truyền bá tư tưởng mới, góp phần thay đổi tư duy văn hóa ở cả đô thị và nông thôn. Văn Hóa Và Xã Hội thời kỳ này được làm phong phú nhờ những đóng góp của Trí Thức Việt Nam, từ đó tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực văn hóa 1897 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát chung về trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897 – 1945) Chương 2: Một số hoạt động của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897- 1945) Chương 3: Đánh giá về hoạt động của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897- 1945) 10 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA (1897 – 1945) 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1897 – 1945 1. Chính sách cai trị của thực dân Pháp Ngay khi chiếm toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp đã chú ý đến yếu tố “chia để trị” để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế. Việt Nam bị chia cắt làm 3 xứ: xứ Nam kỳ thuộc địa đặt dưới quyền Bộ hàng hải và Bộ thuộc địa; xứ Trung kỳ bảo hộ, xứ Bắc kỳ nửa bảo hộ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ ngoại giao.

Sau khi đặt ách thống trị lên nước ta, thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập chế độ chính trị vô cùng phản động và chúng ra sức khai thác thuộc địa với mục đích vơ vét, xuất khẩu tư bản, bóc lột sức lao động và thị trường tiêu thụ. Cùng với đó là vô số chính sách đàn áp, bóc lột về chính trị, kinh tế, văn hóa. Ngày 22 – 3 – 1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp dự án chương trình hoạt động: Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chính riêng cho từng “xứ” thuộc Liên bang. Sửa đổi lại chế độ tài chính, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới sao cho phù hợp với ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể và phải chú ý khai thác những phong tục, tập quán của dân Đông Dương.

Chú ý xây dựng thiết bị lớn cho Đông Dương. Đẩy nền sản xuất và thương mai bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ. Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc thiết lập những căn cứ hải quân và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh. Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc Kì, bảo đảm an ninh vùng biên giới Bắc Kì.

Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là ở các nước lân cận. Việt Nam là nước có các nguồn tài nguyên phong phú, cả trên rừng, 11 dưới biển, trong lòng đất, sức lao động lại đông và rẻ, Việt Nam có đủ điều kiện cho thực dân Pháp đẩy mạnh công việc khai thác, bóc lột kinh tế tại chỗ để kiếm lợi nhuận. Tư bản nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX chủ yếu là của Pháp. Từ năm 1896 đến năm 1914 có 514 triệu phơrăng vàng được đầu tư dưới hình thức tiền vốn của nhà nước.

Việt Nam là một nước nông nghiệp. Ngay sau khi thực dân Pháp chiếm được Sài Gòn, một trong những biện pháp đầu tiên chúng thi hành là bỏ lệ cấm xuất cảng gạo ở Nam Kì mà trước đây Triều đình Huế ban hành, gắn thị trường lúa gạo, mặt hàng quan trọng nhất của Nam Kì, sau đó là toàn bộ thị trường Nam Kì với thị trường thế giới. Thực dân Pháp đã bóc lột nhân dân Việt Nam thậm tệ để tạo ra một nguồn tăng trưởng vốn tích lũy nhanh chóng. Một số người đã vươn lên thành nhà tư bản lớn.

Trong chương trình khai thác thuộc địa thì Đume cũng đã có hai điểm cần phải nêu rõ đó là: “Nhanh chóng xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường giao thông, sông đào, bến cảng, những cơ sở cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương, đồng thời ra sức đẩy mạnh sản xuất và thương mại của thuộc địa bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ” [97, tr. Nguồn ngân sách tài chính để thực hiện chủ yếu từ ngu thu do nguồn lợi của các loại thuế. Pháp tăng cường mọi thứ thuế cũ có từ thời phong kiến trước khi Pháp tới, đều tăng vọt như thuế thân, thuế đinh, thuế ruộng,.Ngoài ra, thuế gián thu có rất nhiều loại do thực dân Pháp tùy tiện đặt ra, đặc biệt là ba loại thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện. Vốn nhà nước Pháp cho ngân quỹ Đông Dương vay, một phần được sử dụng vào việc xây dựng giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng của việc phát triển kinh tế ở Đông Dương.

Về công thương nghiệp, sản xuất ở thuộc địa chỉ được giới hạn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà ở nước Pháp không có. Ngành mỏ, được tư bản thực dân Pháp quan tâm và chú trọng 12 vì ngành này nhanh chóng thu được nhiều lợi nhuận, sau công nghiệp khai thác than và khoáng sản là các ngành khác như xi măng, gạch, ngói, điện, nước, chế biến nông lâm sản,.Phương thức hoạt động của tư bản thực dân Pháp ở Việt Nam là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ công, lao động cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản chủ nghĩa với bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa. Với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản thực dân Pháp đã bóc lột thậm tệ nhân dân ta để thu được rất nhiều lợi nhuận, nhưng khách quan chúng cũng đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đi theo hướng tư bản chủ nghĩa và phát triển lên một bước so với trước. Để đạt được mục đích lợi nhuận về kinh tế, thực dân Pháp đã thực thi các chính sách về giáo dục và văn hóa để bổ trợ.

Chính sách nô dịch của thực dân Pháp trong lĩnh vực văn hóa Văn hóa có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau, tuy nhiên theo cách hiểu chung nhất văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình gốc nông nghiệp, vừa có tính cộng đồng và tính tự trị, có bề dày về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh, truyền thống hiếu học, trọng tình, trọng nghĩa. Những giá trị đó đã giúp dân tộc Việt Nam có được sức mạnh vô bờ chống lại bất kỳ thế lực ngoại xâm dù mạnh đến đâu. Càng khó khăn khi tính tự trị của làng xã Việt Nam nên trong lịch sử các thế lực ngoại bang muốn đồng hóa người Việt Nam đều bị thất bại, hiểu rõ văn hóa là điểm mạnh của dân tộc Việt Nam nên khi kẻ thù là một nước tư bản phương Tây sang xâm lược Việt Nam đã coi đó là một mũi tên để tấn công.

Cụ thể, sau khi dập tắt các phong trào yêu nước, hoàn thành căn bản công cuộc bình định nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa, áp đặt một số chính sách thống trị quy mô và triệt để 13 trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. Nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn, bảo đảm siêu lợi nhuận cho chính quốc. Ngoài xây dựng hệ thống chính trị, thực dân Pháp còn thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về văn hóa để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn mà đặt ra những chương trình cụ thể về văn hóa, giáo dục. Pháp thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa: Duy trì, dung dưỡng nếp sống hủ lậu trong cưới xin, ma chay.

Khuyến khích các thói hư tật xấu, phổ biến lối sống ăn chơi trụy lạc. Xuyên tạc về nguồn gốc dân tộc. Phá hủy các công trình kiến trúc, văn hóa. Làm sỉ nhục người dân bản xứ, gây tâm lý sợ Pháp, phục Pháp.

Mục đích của những chính sách đó là nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến quần chúng thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh đại Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc. Có thể nói bản chất của chính sách văn hóa Pháp ở Việt Nam là loại chính sách cưỡng bức đồng hóa, nhằm đưa văn hóa Việt Nam lệ thuộc sâu sắc vào văn hóa Pháp. “Việc truyền bá văn minh Pháp là mục đích đã được xác nhận, còn trong thâm tâm thì nó có ý nghĩa là sẽ thay thế cho nền văn hóa hiện có” [96, tr. Đầu thế kỷ XX, cùng với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929), tăng cường bóc lột thuộc địa, chính quyền thực dân bắt đầu tấn công mạnh vào tính chất tự trị, khép kín của làng xã, không phải vì muốn cải thiện đời sống của nhân dân mà muốn bằng một bộ máy mới, đưa giai cấp địa chủ đã được tân học hóa lên nắm quyền cai trị, gắn kết chặt chẽ việc cai trị ở làng xã với hệ thống cai trị của chính quyền thực dân.

Từ đây, làng xã Việt Nam gắn với hương ước mới do thực dân Pháp đề ra, đó là hương ước cải lương, chú trọng việc loại bỏ bớt các thủ tục rườm rà, tốn kém trong tục lệ 14 làng, xã vì vậy, nhìn bề nổi, có vẻ theo chiều hướng tích cực. Trước những điều kiện lịch sử trên ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đụng độ, giao thoa với văn hóa phương Tây. Đối tượng trực tiếp tiếp xúc là đội ngũ trí thức. Còn ở các làng quê thì ảnh hưởng của sự giao lưu rất ít.

Trí thức những người nhạy cảm với văn hoá đương thời, đã phân hoá thành ba thái độ ứng xử khác nhau: Chống lại sự giao tiếp, chống lại văn hoá phương Tây. Chấp nhận sự giao tiếp, đầu hàng thực dân về mặt chính trị, cố học lấy chữ Pháp, văn hoá Pháp để ra làm quan cho chính quyền thuộc địa. Chủ động tích cực giao lưu với văn hoá Pháp để tìm đường giải phóng dân tộc. Tuy nhiên trong giai đoạn 1897 – 1945 là giai đoạn trí thức Việt Nam chủ động tiếp nhận văn hóa phương Tây, đồng thời cũng nhìn ra được những điểm hạn chế trong văn hóa Việt Nam, từ đó có định hướng cho hoạt động của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ: Hoạt Động Của Trí Thức Việt Nam Trong Lĩnh Vực Văn Hóa Giai Đoạn 1897-1945" khám phá vai trò và ảnh hưởng của trí thức Việt Nam trong việc hình thành và phát triển văn hóa trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Tác phẩm không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những đóng góp của trí thức đối với văn hóa dân tộc mà còn phân tích các yếu tố xã hội, chính trị tác động đến hoạt động văn hóa trong thời kỳ này. Độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của trí thức trong việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam, từ đó có thể rút ra bài học cho hiện tại và tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ vai trò của các thiền sư trong văn hóa đại việt thời lý trần và ý nghĩa đối với việt nam hiện nay, nơi phân tích vai trò của thiền sư trong việc hình thành văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đông phương học dấu vết của văn hóa ấn độ trong một số truyện cổ tích việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ sự tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ việt từ những năm 1930 đến năm 2017 sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của trang phục truyền thống Việt Nam trong bối cảnh văn hóa hiện đại. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về văn hóa và lịch sử Việt Nam.