Chương 1: Khái quát chung về trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897 – 1945) Chương 2: Một số hoạt động của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897- 1945) Chương 3: Đánh giá về hoạt động của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa (1897- 1945) 10 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA (1897 – 1945) 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1897 – 1945 1. Chính sách cai trị của thực dân Pháp Ngay khi chiếm toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp đã chú ý đến yếu tố “chia để trị” để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế. Việt Nam bị chia cắt làm 3 xứ: xứ Nam kỳ thuộc địa đặt dưới quyền Bộ hàng hải và Bộ thuộc địa; xứ Trung kỳ bảo hộ, xứ Bắc kỳ nửa bảo hộ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ ngoại giao.
Sau khi đặt ách thống trị lên nước ta, thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập chế độ chính trị vô cùng phản động và chúng ra sức khai thác thuộc địa với mục đích vơ vét, xuất khẩu tư bản, bóc lột sức lao động và thị trường tiêu thụ. Cùng với đó là vô số chính sách đàn áp, bóc lột về chính trị, kinh tế, văn hóa. Ngày 22 – 3 – 1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp dự án chương trình hoạt động: Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chính riêng cho từng “xứ” thuộc Liên bang. Sửa đổi lại chế độ tài chính, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới sao cho phù hợp với ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể và phải chú ý khai thác những phong tục, tập quán của dân Đông Dương.
Chú ý xây dựng thiết bị lớn cho Đông Dương. Đẩy nền sản xuất và thương mai bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ. Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc thiết lập những căn cứ hải quân và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh. Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc Kì, bảo đảm an ninh vùng biên giới Bắc Kì.
Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là ở các nước lân cận. Việt Nam là nước có các nguồn tài nguyên phong phú, cả trên rừng, 11 dưới biển, trong lòng đất, sức lao động lại đông và rẻ, Việt Nam có đủ điều kiện cho thực dân Pháp đẩy mạnh công việc khai thác, bóc lột kinh tế tại chỗ để kiếm lợi nhuận. Tư bản nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX chủ yếu là của Pháp. Từ năm 1896 đến năm 1914 có 514 triệu phơrăng vàng được đầu tư dưới hình thức tiền vốn của nhà nước.
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Ngay sau khi thực dân Pháp chiếm được Sài Gòn, một trong những biện pháp đầu tiên chúng thi hành là bỏ lệ cấm xuất cảng gạo ở Nam Kì mà trước đây Triều đình Huế ban hành, gắn thị trường lúa gạo, mặt hàng quan trọng nhất của Nam Kì, sau đó là toàn bộ thị trường Nam Kì với thị trường thế giới. Thực dân Pháp đã bóc lột nhân dân Việt Nam thậm tệ để tạo ra một nguồn tăng trưởng vốn tích lũy nhanh chóng. Một số người đã vươn lên thành nhà tư bản lớn.
Trong chương trình khai thác thuộc địa thì Đume cũng đã có hai điểm cần phải nêu rõ đó là: “Nhanh chóng xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường giao thông, sông đào, bến cảng, những cơ sở cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương, đồng thời ra sức đẩy mạnh sản xuất và thương mại của thuộc địa bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ” [97, tr. Nguồn ngân sách tài chính để thực hiện chủ yếu từ ngu thu do nguồn lợi của các loại thuế. Pháp tăng cường mọi thứ thuế cũ có từ thời phong kiến trước khi Pháp tới, đều tăng vọt như thuế thân, thuế đinh, thuế ruộng,.Ngoài ra, thuế gián thu có rất nhiều loại do thực dân Pháp tùy tiện đặt ra, đặc biệt là ba loại thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện. Vốn nhà nước Pháp cho ngân quỹ Đông Dương vay, một phần được sử dụng vào việc xây dựng giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng của việc phát triển kinh tế ở Đông Dương.
Về công thương nghiệp, sản xuất ở thuộc địa chỉ được giới hạn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà ở nước Pháp không có. Ngành mỏ, được tư bản thực dân Pháp quan tâm và chú trọng 12 vì ngành này nhanh chóng thu được nhiều lợi nhuận, sau công nghiệp khai thác than và khoáng sản là các ngành khác như xi măng, gạch, ngói, điện, nước, chế biến nông lâm sản,.Phương thức hoạt động của tư bản thực dân Pháp ở Việt Nam là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ công, lao động cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản chủ nghĩa với bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa. Với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản thực dân Pháp đã bóc lột thậm tệ nhân dân ta để thu được rất nhiều lợi nhuận, nhưng khách quan chúng cũng đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đi theo hướng tư bản chủ nghĩa và phát triển lên một bước so với trước. Để đạt được mục đích lợi nhuận về kinh tế, thực dân Pháp đã thực thi các chính sách về giáo dục và văn hóa để bổ trợ.
Chính sách nô dịch của thực dân Pháp trong lĩnh vực văn hóa Văn hóa có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau, tuy nhiên theo cách hiểu chung nhất văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình gốc nông nghiệp, vừa có tính cộng đồng và tính tự trị, có bề dày về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh, truyền thống hiếu học, trọng tình, trọng nghĩa. Những giá trị đó đã giúp dân tộc Việt Nam có được sức mạnh vô bờ chống lại bất kỳ thế lực ngoại xâm dù mạnh đến đâu. Càng khó khăn khi tính tự trị của làng xã Việt Nam nên trong lịch sử các thế lực ngoại bang muốn đồng hóa người Việt Nam đều bị thất bại, hiểu rõ văn hóa là điểm mạnh của dân tộc Việt Nam nên khi kẻ thù là một nước tư bản phương Tây sang xâm lược Việt Nam đã coi đó là một mũi tên để tấn công.
Cụ thể, sau khi dập tắt các phong trào yêu nước, hoàn thành căn bản công cuộc bình định nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa, áp đặt một số chính sách thống trị quy mô và triệt để 13 trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. Nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn, bảo đảm siêu lợi nhuận cho chính quốc. Ngoài xây dựng hệ thống chính trị, thực dân Pháp còn thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về văn hóa để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã tùy từng thời kỳ, từng giai đoạn mà đặt ra những chương trình cụ thể về văn hóa, giáo dục. Pháp thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa: Duy trì, dung dưỡng nếp sống hủ lậu trong cưới xin, ma chay.
Khuyến khích các thói hư tật xấu, phổ biến lối sống ăn chơi trụy lạc. Xuyên tạc về nguồn gốc dân tộc. Phá hủy các công trình kiến trúc, văn hóa. Làm sỉ nhục người dân bản xứ, gây tâm lý sợ Pháp, phục Pháp.
Mục đích của những chính sách đó là nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến quần chúng thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh đại Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc. Có thể nói bản chất của chính sách văn hóa Pháp ở Việt Nam là loại chính sách cưỡng bức đồng hóa, nhằm đưa văn hóa Việt Nam lệ thuộc sâu sắc vào văn hóa Pháp. “Việc truyền bá văn minh Pháp là mục đích đã được xác nhận, còn trong thâm tâm thì nó có ý nghĩa là sẽ thay thế cho nền văn hóa hiện có” [96, tr. Đầu thế kỷ XX, cùng với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929), tăng cường bóc lột thuộc địa, chính quyền thực dân bắt đầu tấn công mạnh vào tính chất tự trị, khép kín của làng xã, không phải vì muốn cải thiện đời sống của nhân dân mà muốn bằng một bộ máy mới, đưa giai cấp địa chủ đã được tân học hóa lên nắm quyền cai trị, gắn kết chặt chẽ việc cai trị ở làng xã với hệ thống cai trị của chính quyền thực dân.
Từ đây, làng xã Việt Nam gắn với hương ước mới do thực dân Pháp đề ra, đó là hương ước cải lương, chú trọng việc loại bỏ bớt các thủ tục rườm rà, tốn kém trong tục lệ 14 làng, xã vì vậy, nhìn bề nổi, có vẻ theo chiều hướng tích cực. Trước những điều kiện lịch sử trên ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đụng độ, giao thoa với văn hóa phương Tây. Đối tượng trực tiếp tiếp xúc là đội ngũ trí thức. Còn ở các làng quê thì ảnh hưởng của sự giao lưu rất ít.
Trí thức những người nhạy cảm với văn hoá đương thời, đã phân hoá thành ba thái độ ứng xử khác nhau: Chống lại sự giao tiếp, chống lại văn hoá phương Tây. Chấp nhận sự giao tiếp, đầu hàng thực dân về mặt chính trị, cố học lấy chữ Pháp, văn hoá Pháp để ra làm quan cho chính quyền thuộc địa. Chủ động tích cực giao lưu với văn hoá Pháp để tìm đường giải phóng dân tộc. Tuy nhiên trong giai đoạn 1897 – 1945 là giai đoạn trí thức Việt Nam chủ động tiếp nhận văn hóa phương Tây, đồng thời cũng nhìn ra được những điểm hạn chế trong văn hóa Việt Nam, từ đó có định hướng cho hoạt động của mình.