Luận văn thạc sĩ hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực giáo dục 1897 1945

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực giáo dục 1897 1945, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát chung về trí thức và giáo dục Việt Nam 1897 1945

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào hoạt động trí thức của trí thức Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục Việt Nam giai đoạn 1897-1945. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ từ nền giáo dục Nho học sang giáo dục Tân học, dưới ảnh hưởng của thực dân Pháp. Trí thức Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu và chuyển hóa các giá trị giáo dục mới, đồng thời duy trì tinh thần yêu nước và dân tộc. Lịch sử giáo dục giai đoạn này phản ánh sự đấu tranh giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo thủ và cải cách.

1.1 Khái niệm về trí thức

Trí thức Việt Nam được định nghĩa là những người có học vấn, am hiểu và đóng góp vào sự phát triển xã hội. Giai đoạn 1897-1945, trí thức bao gồm cả những người theo Nho họcTân học, với sự đa dạng về tư tưởng và phương pháp hoạt động. Họ là lực lượng tiên phong trong việc tiếp thu và truyền bá tri thức mới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.

1.2 Khái quát về giáo dục Việt Nam

Giáo dục Việt Nam giai đoạn này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ chính sách của thực dân Pháp. Giáo dục Nho học dần bị thay thế bởi giáo dục Pháp-Việt, với mục đích đào tạo một đội ngũ trí thức phục vụ cho bộ máy cai trị. Tuy nhiên, trí thức Việt Nam đã biến đổi hệ thống giáo dục này thành công cụ để khai dân trí và chấn hưng dân khí.

II. Hoạt động của trí thức Việt Nam trong giáo dục 1897 1945

Hoạt động trí thức trong giáo dục Việt Nam giai đoạn 1897-1945 được thể hiện qua nhiều hình thức, từ cải cách giáo dục Nho học đến xây dựng hệ thống giáo dục cách mạng. Trí thức Việt Nam đã đóng góp lớn vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ, biên soạn tài liệu học tập, và xây dựng nền giáo dục dân chủ. Những hoạt động này không chỉ mang tính học thuật mà còn gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc.

2.1 Cải biến giáo dục Nho học

Trí thức Việt Nam đã tiến hành cải cách giáo dục Nho học bằng cách kết hợp với các yếu tố hiện đại. Họ thành lập các trường học Duy tân, nơi truyền bá tư tưởng yêu nước và khuyến khích học tập chữ Quốc ngữ. Đây là bước đột phá quan trọng trong việc thay đổi phương pháp và nội dung giáo dục.

2.2 Truyền bá chữ Quốc ngữ

Việc truyền bá chữ Quốc ngữ là một trong những đóng góp lớn nhất của trí thức Việt Nam trong giai đoạn này. Họ biên soạn nhiều tài liệu học tập, vận động người dân từ bỏ chữ Hánchữ Nôm, hướng tới một nền giáo dục hiện đại và dễ tiếp cận hơn.

III. Đánh giá và đóng góp của trí thức Việt Nam trong giáo dục

Hoạt động trí thức trong giáo dục Việt Nam giai đoạn 1897-1945 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Trí thức Việt Nam không chỉ là lực lượng tiên phong trong việc tiếp thu và truyền bá tri thức mới mà còn là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại. Những đóng góp của họ đã góp phần xây dựng nền giáo dục cách mạng, thúc đẩy tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc.

3.1 Vai trò tiên phong của trí thức

Trí thức Việt Nam đã đóng vai trò tiên phong trong việc tiếp nhận và truyền bá tư tưởng mới. Họ là những người đầu tiên nhận ra sự cần thiết của việc thay đổi hệ thống giáo dục, từ đó thúc đẩy sự phát triển của giáo dục Việt Nam theo hướng hiện đại và khoa học.

3.2 Đóng góp vào giáo dục cách mạng

Những hoạt động của trí thức Việt Nam đã đặt nền móng cho giáo dục cách mạng. Họ không chỉ truyền bá tri thức mà còn giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực giáo dục 1897 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÍ THỨC VÀ GIÁO DỤC VIỆT NAM (1897 -1945) 1. Khái niệm về trí thức Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về trí thức. Khái niệm trí thức biến đổi theo lịch sử và phụ thuộc vào quan niệm, nhận thức của cá nhân, quốc gia hay tổ chức. Thường để xác định trí thức, người ta căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản: có trình độ học vấn, chuyên môn môn cao và hoạt động trí óc trong các lĩnh vực khoa học để phân biệt với người lao động bằng chân tay và trí thức là một tầng lớp chứ không phải là một giai cấp trong xã hội.

Đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về trí thức. Các khái niệm về trí thức luôn có sự thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử và hầu như vẫn chưa có khái niệm nào bao quát hết tất cả nội hàm của khái niệm trí thức. Mặc dù đây là lực lượng xã hội tồn tại xuyên suốt trong tiến trình lịch sử thế giới nói chung và lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng. Cho đến thời điểm hiện nay có khoảng 100 khái niệm khác nhau về trí thức.

Nhưng tựu chung lại, để xác định trí thức người ta thường căn cứ vào hai yếu tố cơ bản: - Thứ nhất, đó là người có trình độ học vấn và chuyên môn. - Thứ hai, tham gia hoạt động ở các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật. Trong từ điển Pháp, định nghĩa trí thức (Interllectuels) “là người quan tâm đến công việc não bộ vì thị hiếu hay vì nghề nghiệp”, suy ra mọi lao động trí óc đều là trí thức. Từ này chính thức xuất hiện tại Pháp (1896), từ một bản Kháng nghị nổi tiếng của các nhà văn, nhà khoa học, do nhà văn Eminl Zola đứng đầu.

Trong từ điển Anh “Trí thức (Intellectual) là người làm việc với lý thuyết và nguyên tắc hơn là thực hành, lý thuyết của họ thường liên quan đến những vấn đề trừu tượng, họ xa rời thế giới và họ chủ yếu thuộc giới dạy học 14 và văn hóa. Những người ít chú ý đến thú vui tầm thường” (chỉ giới hạn ở thầy, cô, những nhà văn hóa, văn nghệ, nhà tư tưởng). Ở Nga, người ta gọi trí thức (Intelligentsia) là “những người dấn thân cho công cuộc Tây phương hóa ở nước Nga” như vậy nghĩa của từ này xuất phát từ tiếng La tinh, có nghĩa là: trí tuệ, thông minh, sự hiểu biết. Theo Marx, trí thức là những người có kiến thức dồi dào và có chính kiến trước các vấn đề chính trị xã hội”.

Còn nói rõ hơn: “Trí thức ngoài khả năng sáng tạo, còn phải dám phê phán thẳng thừng mọi thứ cần phê phán, không lùi bước trước mọi kết luận, không đụng chạm dù đụng chạm đến quyền lực nào” Ở Trung Quốc, Khổng Tử nói: “Nho sĩ phải là người đủ ba phẩm chất: có trách nhiệm cao, có lòng tự trọng và dũng cảm”. Học giả Hồ Thu Nguyên, “Trí thức là hiểu trước, biết sau, rồi đem sự học hỏi của mình cống hiến cho tiến bộ nhân loại, xã hội, dân tộc”. Trong xã hội tư bản, trí thức tư sản là trí thức của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, một số trí thức tư sản sớm nhận thức được quy luật lịch sử nên đã rời bỏ quan điểm của giai cấp xuất thân để chuyển sang hàng ngũ giai cấp vô sản.

Ở Việt Nam, quan niệm về trí thức cũng thay đổi qua mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử. Thời kỳ công xã nguyên thủy: những người có hiểu biết nhất định trong bộ tộc của mình có thể coi họ là trí thức, họ là những già làng, tộc trưởng, tù trưởng. Sau đó thời cổ đại quan niệm, sĩ để chỉ quân đội, lực lượng vũ trang (võ). Thời kỳ trị vì của các các triều đại phong kiến từ giữa thế kỷ XIX trở về trước quan niệm trí thức là sĩ phu, kẻ sĩ, nho sĩ, các cụ đồ nho được đào tạo theo mô hình giáo dục Trung Hoa.

Theo tư tưởng Nho giáo: sĩ để chỉ văn (sau khi Nho gia vào Việt Nam, từ đó sĩ biến thành Nho sĩ, kẻ sĩ. Kẻ sĩ chính là người quân tử. Trong xã hội phong kiến, vị thế Nho sĩ được đánh giá cao, đứng đầu trong tứ dân (Sĩ, nông, công, thương). Trong đó thứ tự trí thức: Nho, y, lý, số (nhà Nho, thầy thuốc, nhà địa lý, người xem tướng số) 15 Đến thời trị vì của nhà Lê, quan điểm về trí thức ở Việt Nam xuất hiện rõ hơn, trên trên tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, Thân Nhân Trung có phản ánh để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm 1442: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống thấp”.

Về thành phần, thời phong kiến Việt Nam, trí thức có thể được chia làm ba dạng: trí thức quan phương, trí thức ở ẩn và trí thức bình dân. “Trí thức quan phương”, có địa vị cao trong xã hội, được triều đình ban cấp nhiều ruộng đất và bổng lộc, sống cách biệt với nhân dân lao động. Bộ phận này tận trung với nhà vua, hết lòng phụng sự triều đình và cũng là chỗ dựa vững chắc cho nhà nước phong kiến. “Trí thức ở ẩn”, là những người có học, khi đi thi không đỗ, hoặc thi đỗ nhưng không ra làm quan.

Bộ phận thứ ba là “trí thức bình dân”, thường là những thầy đồ, thầy thuốc. Những người này sống cuộc sống thanh bần, gần gũi với người dân lao động. Thường bảo vệ quyền lợi cho nhân dân lao động. Từ nửa sau thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, Pháp đã thực hiện chính sách giáo dục mới ở Việt Nam.

Do vậy, trí thức trong thời Pháp thuộc xét theo chương trình đào tạo gồm hai bộ phận là trí thức Nho học (văn thân, sĩ phu) và trí thức Tây học (trí thức Tân học). Trí thức Nho học ở Việt Nam được đào tạo theo mô hình giáo dục Trung Hoa, nội dung chương trình học là sách Tứ thư, Ngũ Kinh. Đến nửa sau thế kỷ XIX, nền giáo dục Nho giáo bộc lộ nhiều hạn chế càng về sau cũng không còn sức hút đối với trí thức, không đủ để đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử. Đến cuối thế kỷ XIX, đội ngũ trí thức Nho học Việt Nam hăng hái lãnh đạo, tham gia phong trào chống Pháp - phong trào Cần Vương, họ được gọi là văn thân, sĩ phu.

Theo từ điển Tiếng Việt thì văn thân là những nhà Nho có 16 tiếng trong xã hội. Sĩ phu là người trí thức có danh tiếng trong xã hội phong kiến [102, tr. Theo nhà nghiên cứu Lịch sử T.subôi thì “văn” chỉ những người có học thức trong xã hội phong kiến Việt Nam, “Thân” là dải thắt lưng tơ mà các viên chức Trung Hoa thời xưa cột ngang lưng. Người Pháp hay dùng “đảng văn thân” để chỉ những người chống Pháp ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, thực ra văn thân không phải là một đảng chính trị hay một giai cấp, chỉ là một tầng lớp có học vấn, địa vị, nguồn gốc xuất thân khác nhau nhưng có chung nền tảng học vấn là Nho học.

Còn nhà sử học Trần Huy Liệu cho rằng: “Sĩ phu là những người không có đặc quyền, đặc lợi ở triều đình, cũng không có tư điền sản lớn ở thôn quê nhưng họ có uy tín lớn và ảnh hưởng rộng rãi với nhân dân địa phương. Bên cạnh những danh vọng đã có sẵn từ trước, họ là đại biểu cho ý thức của một bộ phận phong kiến chống Pháp, trung vua, yêu nước và thủ cựu. Phản ánh từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc, họ mang nặng tính chất bài ngoại” [80, tr. 58] Đầu thế kỷ XX, ngoài trí thức Nho học thuần túy, xuất hiện đội ngũ trí thức Nho học tiến bộ.

Họ vốn là những trí thức Nho học hướng nhận thức của mình sang nền văn minh phương Tây, tiếp thu tư tưởng Dân chủ tư sản thông qua nhiều lăng kính khác nhau, điển hình như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp,… Xét về góc độ chính trị, trí thức được chia ra làm ba loại: trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản và trí thức vô sản. Về mặt xã hội, trí thức không phải là một lực lượng thuần nhất, có vị trí độc lập so với các giai cấp khác. Trí thức là một bộ phận trung gian đứng giữa các giai cấp khác nhau, còn sinh viên là lực lượng dự bị, nguồn bổ sung trực tiếp của trí thức. Theo từ điển Tiếng Việt, “trí thức là những người chuyên làm việc trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp” 17 [102, tr .1034] Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, trí thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh.

Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ. Trí thức nói chung là nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của lịch sử, nhất là trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay. Trí thức xuất hiện cùng với việc tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay, phát triển cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật. Trí thức không phải là một giai cấp riêng vì nó được thu hút từ nhiều giai cấp khác nhau, không có vị trí riêng trong hệ thống sản xuất xã hội.

Trí thức nói chung, thường nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay… Quan niệm của Hồ Chí Minh: “Trí thức là hiểu biết, .hiểu biết sự tranh đấu sinh tồn, …hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội, …Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”,…Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. …Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn.

Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải biết đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” [94, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Hoạt Động Của Trí Thức Việt Nam Trong Giáo Dục Giai Đoạn 1897-1945 là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và đóng góp của tầng lớp trí thức Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Tài liệu này không chỉ làm rõ những nỗ lực cải cách giáo dục của trí thức trong bối cảnh lịch sử đầy biến động mà còn phân tích sâu sắc tác động của họ đến sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách trí thức Việt Nam đã vượt qua thách thức để xây dựng nền tảng giáo dục hiện đại, đồng thời nhận thức được ý nghĩa lịch sử của giai đoạn này.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề giáo dục và lịch sử, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ giáo dục thời Lê sơ 1428-1527 nhìn từ góc độ văn hóa học, nghiên cứu về giáo dục trong giai đoạn đầu của triều đại Lê sơ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ sử học giáo dục và khoa cử nho học Đại Việt thế kỷ XVII-XVIII cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ thống giáo dục và khoa cử thời kỳ này. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi và ảnh hưởng đến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa tư tưởng giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về lịch sử giáo dục và tư tưởng trí thức qua các thời kỳ.