Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TƯ SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ 1930 - 1945 1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tư sản Việt Nam trước năm 1930 1. Khái quát sự ra đời và trưởng thành của giai cấp tư sản Việt Nam trước năm 1930 Vào đầu thế kỷ XX, điều kiện quốc tế cũng như trong nước cho sự ra đời của tư sản Việt Nam đã xuất hiện.
Chủ nghĩa tư bản cùng với ý thức hệ của nó trở thành hệ thống thế giới. Làn sóng xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã lôi cuốn những nước phong kiến lạc hậu, trong đó có Việt Nam vào quỹ đạo của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính sách thống trị của thực dân Pháp vô hình dung đã phá vỡ kết cấu kinh tế cổ truyền, thúc đẩy kinh tế hàng hóa mở rộng và xuất hiện lớp người lao động làm thuê. Trên cơ sở đó, tư sản Việt Nam ra đời.
Và trước khi ra đời, tư sản Việt Nam cũng đã trải qua quá trình tích lũy của cải trong tay làm phá sản những người sản xuất nhỏ, để thiết lập nên những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của từng khu vực, quá trình tích lũy đó có nhịp độ và diễn ra dưới những hình thức khác nhau. Vừa mới ra đời, tư sản Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở khá nhiều lĩnh vực, từ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp đến giao thông vận tải, thầu khoán. Trong đó, thương nghiệp là lĩnh vực kinh doanh có sự tham gia đông đảo nhất của tư sản Việt Nam; lĩnh vực giao thông vận tải cũng đã xuất hiện một số xưởng sửa chữa ô tô, đặc biệt có nhà tư sản đã hướng tới mua phương tiện vận tải hành khách và hàng hóa.
Tuy nhiên, ở những ngành công nghiệp hiện đại ít có sự tham gia của họ. Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, giai đoạn trước năm 1914, hoạt động của tư sản Việt Nam còn rất hạn chế. Họ có phần bực bội vì sự chèn ép của tư bản Pháp và sự kìm hãm của chính quyền thực dân. Nhưng do quá lệ thuộc vào e 8 kinh tế của tư bản Pháp và chưa thoát ly được lối bóc lột phong kiến trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh của họ, nên không dám ra mặt chống Pháp và phong kiến mà chỉ mong muốn có một sự cải tổ để dễ bề làm ăn sinh sống hơn.
Thêm vào đó, tình trạng yếu ớt về thế lực kinh tế đã khiến cho lớp tư sản đầu tiên ở Việt Nam chưa có một vấn đề gì và cũng chưa dám tỏ thái độ trong cuộc vận động cách mạng dân tộc dân chủ đầu thế kỷ XX. Hoạt động nổi bật nhất của Việt Nam giai đoạn trước năm 1914 là lén lút ủng hộ tiền bạc và cho con em mình tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu và các đồng chí của ông khởi xưởng; đồng thời dùng việc mở mang kinh doanh, lập các hội buôn, cổ vũ xây dựng, phát triển nền kinh tế dân tộc để hỗ trợ cho chủ trương đổi mới kinh tế - văn hóa của các sĩ phu Duy tân. Những hoạt động này ít nhiều đã góp phần vào kết quả của các phong trào nói trên; đồng thời có tác dụng thức tỉnh lòng yêu nước, ý thức dân tộc và đả phá tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, lạc hậu, nhất là tư tưởng “trọng quan, khinh thương”, coi thường thực học và thực nghiệp trong việc xây dựng nước nhà. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, giai đoạn trước năm 1914, hoạt động của tư sản Việt Nam trên các phương diện còn khá khiêm tốn.
Thời điểm này, hàng hóa trên thị trường nếu không phải hàng ngoại hóa nhập cảng thì cũng là hàng của tư sản Pháp hay của tư sản Hoa kiều ở Việt Nam sản xuất ra, phần lớn hàng tiêu dùng do thợ thủ công sản xuất: “Của báu núi rừng ta không được hưởng nguồn lợi, trăm thứ hàng hóa ta không nắm được lợi quyền. Cho đến các hàng vóc, nhiễu, nhung, len, vải, giày, dép, khăn tay, mục kỉnh, dù che, dầu hỏa, ống nói, kính hiển vi, kính ảnh, bút Tàu, kim chỉ, khuy cúc, phẩm nhuộm, xà phòng, diêm, bánh sữa, thuốc bắc, thuốc lá, rượu, chè… không mua của Tàu thì cũng mua của Tây cả” [6]. Trong khi đó, trên phương diện chính trị - xã hội, những hành động hưởng ứng cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX của tư sản Việt Nam xuất phát từ sự lôi cuốn của phong trào do sĩ phu tiến bộ khởi xưởng. Đó không phải là hành động xuất thân từ ý thức giai cấp của tư sản Việt Nam.
Bản thân họ mới chỉ là một tầng lớp nhỏ yếu. Họ chưa ý thức được e 9 quyền lợi kinh tế, sự kìm hãm của thực dân Pháp là lực cản lớn nhất trên con đường làm ăn của họ. Đó cũng là nguyên nhân khiến tư sản Việt Nam vẫn chưa thể là một giai cấp trong cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam. Bước sang những năm 1914 - 1930, với những tác động thuận chiều nảy sinh từ bối cảnh lịch sử, tư sản Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh.
Họ đã có mặt trong những ngành kinh tế quan trọng; lập được những xí nghiệp sản xuất và những công ty thương mại khá lớn. Do đó, quá trình tích lũy tư bản được đẩy nhanh, năng lực cạnh tranh trên thương trường cũng khả quan hơn so với thời kỳ trước. Đồng thời, có những chuyển biến tích cực trong hoạt động chính trị - xã hội. Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) nổ ra, Pháp là nước trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh, hàng hóa của Pháp nhập cảng vào thị trường Việt Nam ngày càng giảm sút.
Do đó, thực dân Pháp đã thi hành chính sách nới lỏng độc quyền ở thị trường Việt Nam để ổn định tình hình. Với chính sách đó đã tạo ra “khoảng thời gian vàng” cho tư sản Việt Nam đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tăng cường tích lũy tư bản. Tiếp đó, từ năm 1919, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) càng thúc đẩy tư sản Việt Nam gia tăng hoạt động. Và để nâng địa vị trên thương trường, đồng thời đối phó với những lực lượng kinh tế khác kìm hãm mình, tư sản Việt Nam sử dụng nhiều biện pháp để mở rộng quan hệ tư bản chủ nghĩa ở trong nước.
Họ ý thức được rằng kinh doanh một cách tự phát, thiếu hiệp thương và đoàn kết, tương hỗ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh sẽ dẫn tới chỗ yếu đi trước sức mạnh kinh tế của đối thủ cạnh tranh. Do đó, họ cùng nhau tập hợp thành “tập đoàn”, “hội” với mục đích bảo vệ quyền lợi lẫn nhau. Nhiều công ty, hiệu buôn, xưởng sản xuất có quy mô lớn hơn thời kỳ trước lần lượt ra đời. Vì vậy, địa vị kinh tế của tư sản Việt Nam từ sau năm 1914 được nâng lên đáng kể hơn trước.
Khi địa vị kinh tế được nâng lên, ý thức giai cấp cũng có chiều hướng trưởng thành hơn. Họ bắt đầu tỏ rõ “sự bực tức” đối với sự chèn ép của tư sản e 10 nước ngoài, mà trước hết là tư sản Pháp. Do đó, tư sản Việt Nam đã bắt đầu sử dụng báo chí để lên tiếng đòi quyền lợi về kinh tế và chính trị. Tiếp đó, ý thức giai cấp của tư sản Việt Nam nảy sinh, thúc đẩy họ lên tiếng, đấu tranh khá mạnh mẽ để đòi quyền lợi cho giai cấp mình, thể hiện cả trong đấu tranh củng cố, bảo vệ lợi ích kinh tế và đấu tranh đòi quyền lợi, địa vị chính trị - xã hội.
Để nâng cao địa vị của mình trên thương trường, tư sản người Việt Nam dùng nhiều biện pháp mở rộng quan hệ tư bản chủ nghĩa ở trong nước, hiệp thương và đoàn kết, tương hỗ lẫn nhau trong kinh doanh, biểu hiện rõ nét nhất là họ tham gia thành lập các “hội” với mục đích bảo vệ quyền lợi cho nhau. Họ có ý thức cao trong việc dùng hàng nội hóa, sản xuất nhiều mặt hàng thay thế hàng ngoại nhập, đồng thời lên tiếng cổ vũ thực nghiệp trên báo chí, đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho giới của mình. Đặc biệt, từ sau năm 1919, khi tư sản Việt Nam đang trên đà phát triển thì cũng là lúc tư bản Pháp tăng cường đầu tư vào Việt Nam, nên họ càng nhận thấy rõ chính sách của thực dân Pháp là trở lực lớn trên con đường làm ăn của mình: “đời bây giờ nghề làm ăn chật hẹp, mà người ngoại quốc đến nước ta ngày càng đông, hễ nghề của mình hơi thấy sa sút thì họ thừa cơ mà chiếm lấy” [9]. Tư sản Việt Nam phản ứng lại chính sách kinh tế của thực dân Pháp và đòi quyền lợi.
Họ đòi giảm thuế, chống lại ý đồ độc quyền của tư sản Pháp. Ở một mức độ cao hơn, tư sản Việt Nam tập hợp nhau lại trong các đảng phái chính trị, đấu tranh đòi tham gia vào hệ thống chính quyền thực dân, nhằm lên tiếng bảo vệ lợi ích của giới tư sản bản xứ trong xã hội thuộc địa. Do đó, vào những năm 1919 - 1930, tư sản Việt Nam đã phát triển thành một giai cấp xã hội thực sự trong cơ cấu xã hội - giai cấp Việt Nam thời Pháp thuộc. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tư sản Việt Nam trước năm 1930 Khi vừa ra đời, tư sản Việt Nam hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đến thầu khoán, giao thông vận tải.
Trong đó, lĩnh vực thương nghiệp có số lượng đông e 11 đảo nhất và đồng thời cũng lập nên những cơ sở kinh doanh có nguồn vốn khá lớn và phương thức kinh doanh đa dạng. Riêng đối với lĩnh vực công nghiệp, số lượng tư sản hoạt động trong lĩnh vực này rất ít. Đặc biệt, trong những ngành công nghiệp hiện đại hầu như không có mặt của tư sản Việt Nam. Có chăng nữa, họ chỉ dừng lại ở việc kinh doanh trong một số ngành công nghiệp vốn là các ngành nghề thủ công truyền thống trước đây.
Các xưởng sản xuất họ lập ra, tiếng gọi là các xí nghiệp có tính chất tư bản chủ nghĩa, nhưng kỳ thực vốn ít, quy mô thì nhỏ bé, kỹ thuật sản xuất đa số còn lạc hậu, sức cạnh tranh với các công ty tư bản Pháp và nước ngoài còn kém.