Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm giám sát, phản biện xã hội * Khái niệm giám sát Hiện nay có nhiều định nghĩa về thuật ngữ giám sát.
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) ghi giám sát là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” hoặc “Là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định” [39, tr. Trong tiếng Nga, giám sát được hiểu là hoạt động của một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi người, việc nào đấy. Theo tiếng Anh thì Giám sát - supervision: là sự trông nom, sự giám sát, xem xét của chủ thể bên ngoài (một hệ thống) đối với khách thể thuộc hệ thống khác. Thuật ngữ giám sát cũng được sử dụng khá phổ biến trong văn bản chính trị, pháp luật của nước ta, như: Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” [44, tr.9]; “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” [44, tr.11]; Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại e 14 đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [44, tr.
Luật MTTQVN năm 2015: “Thực hiện giám sát và phản biện xã hội” [45, tr.9]; “Nhân dân giám sát hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để bảo đảm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật” [45, tr.12-13]; “Chương V: Hoạt động giám sát” [45, tr. 24-30]; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” [46, tr. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát xã hội việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân” [47, tr. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: Chính quyền địa phương tạo điều kiện để UBMTTQVN và các tổ chức CT – XH động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, GS và PBXH đối với hoạt động của chính quyền địa phương [45, tr.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo” [49, tr. Ngoài ra, hầu hết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và hệ thống văn bản luật được Quốc hội ban hành đều có một điều luật riêng quy định về trách nhiệm giám sát của MTTQVN đối với quá trình triển khai thực hiện các văn bản đó. e 15 Như vậy, từ nhiều cách diễn đạt khác nhau, có thể định nghĩa khái quát về giám sát như sau: Giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai theo những điều đã quy định. * Khái niệm phản biện xã hội: Thuật ngữ phản biện và PBXH được nhiều tài liệu của các tác giả, các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới các góc độ khác nhau.
Theo âm Hán Việt, phản biện được hiểu là “sự bàn luận theo hướng ngược lại”, là sự tranh luận, tranh cãi, là “việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó”. Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì phản biện là: “Đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị của hội đồng chấm thi” [39, tr. Theo cách định nghĩa trên, phản biện được hiểu theo nghĩa hẹp, xoay quanh một lĩnh vực nhất định. Ở đây chỉ coi hoạt động phản biện là hoạt động đặc thù chỉ có trong quá trình bảo vệ luận án, luận văn hoặc đề tài, đề án khoa học, trong khi có rất nhiều hoạt động, lĩnh vực khác cũng rất cần được phản biện.
Theo các tác giả cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng” thì phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau. Trong khoa học, phản biện là một trong những cách thức quan trọng để hướng đến chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội, phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn, tránh sự chủ quan duy ý chí của người cầm quyền. Phản biện không đồng nghĩa với phản bác hay bài bác.
Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa: Phản biện là sự nhận xét, đánh e 16 giá hay thẩm định một vấn đề nào đó, phát hiện và loại bỏ những yếu tố sai lầm, hướng tới sự đúng đắn và hợp lý đáp ứng những yêu cầu và mục tiêu nhất định. Còn PBXH, theo các nhà khoa học, là những ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của xã hội, nhân dân và các nhà khoa học về các chương trình, chính sách, dự án, đề án, quy hoạch. của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan. Theo đó PBXH thường nhằm vào những điểm yếu, hạn chế, sai sót để đưa ra các lập luận, chứng cứ, đánh giá, bổ sung, phản bác một phần hoặc toàn bộ dự thảo phương án, chương trình, chính sách nhất định.
Quan niệm này nhấn mạnh những khía cạnh bản chất của PBXH, loại phản biện mang tính xã hội nhằm phân biệt với phản biện Nhà nước, nằm “ngoài” Nhà nước. Tác giả Trần Thái Dương cho rằng, “Phản biện xã hội theo nghĩa rộng như vậy được thể hiện ở toàn bộ cách thức mà các lực lượng xã hội phản ứng ngược trở lại (phản hồi) trước những tác động của lực lượng lãnh đạo, quản lý xã hội như dư luận xã hội, phê phán xã hội, giám sát xã hội, tham gia xã hội” [9, tr. Như vậy, PBXH là hoạt động rộng rãi mang tính nhân dân và tổ chức, là việc một tổ chức đưa ra những chứng lý, lý lẽ, căn cứ khoa học để làm rõ bản chất của một vấn đề, một sự kiện nào đó, là cơ sở để đưa ra một chủ trương, chính sách, quyết định hợp lý, hợp pháp. Tác giả Hồ Bá Thâm cho rằng, “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, pháp luật, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH), khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, môi trường, trật tự an ninh… của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan ban hành nhằm mục tiêu phát triển” [51, tr.
Các tác giả sách “Một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng” cho rằng: PBXH là phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức và các cơ quan Nhà nước để đảm bảo mọi đường e 17 lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phục vụ lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân với tư cách là người chủ của Nhà nước thì phải có quyền và có trách nhiệm tham gia quá trình hoạch định, thực thi và đảm bảo cho chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thiết thực. Việc lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo văn kiện, các dự án và chính sách KT – XH của Đảng và Nhà nước; việc trưng cầu ý kiến nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng…đều là những cách phát huy tốt vai trò PBXH. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, cần có cơ chế cụ thể, rõ ràng để nhân dân mạnh dạn bày tỏ thẳng thắn ý kiến và trực tiếp tham gia phản biện đối với các dự thảo, dự án, đề án quy hoạch và những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước.
Ngược lại Đảng, Nhà nước cũng phải sẵn sàng lắng nghe, tiếp thu những ý kiến ngược chiều để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách [7, tr. Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa: Phản biện xã hội là hoạt động mang tính xã hội, phản ánh sự nhìn nhận, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm làm cho đường lối, chính sách ấy phù hợp và đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. * Giữa phản biện xã hội với phản biện khoa học, phản kháng xã hội, phê phán xã hội có những điểm tương đồng và khác biệt. Phản biện xã hội và phản biện khoa học đều phải dựa trên cơ sở các lập luận và ý kiến hướng đến chân lý khách quan.
Trong nhiều trường hợp (tùy thuộc nội dung và chủ thể PBXH), PBXH cũng chính là phản biện khoa học. Tuy nhiên, phản biện khoa học bao giờ cũng phải có sự hoàn chỉnh tương đối của lập luận để “đối chất” với lập luận “chính thống”. Còn PBXH không phải bao giờ cũng như vậy, có những trường hợp PBXH là sự tập hợp của nhiều ý e 18 kiến, phản ứng, dư luận, lý lẽ và thường không có tính hoàn chỉnh tương đối, nhưng vẫn có thể tác động mạnh đến phương án xã hội “chính thống” đã được đưa ra.