Chương 1 TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1. TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm về tranh chấp môi trường 6 Trên thế giới, tranh chấp liên quan đến môi trường không phải là hiện tượng xã hội mới nảy sinh, nó đã xuất hiện từ rất sớm và liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau. Điều này cũng có thể lý giải vì xét về nguyên nhân khách quan thì các nước trên thế giới xảy ra tranh chấp đã có một nền sản xuất công nghiệp lớn và phát triển.
Về chủ quan thì con người đã ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường và quyền của con người được sống trong môi trường trong lành. Chúng ta có thể điểm qua một số vụ tranh chấp môi trường điển hình giữa các nước trong thời gian qua. Vụ thứ nhất: một vụ kiện nổi tiếng giữa hai quốc gia là Mỹ và Canađa (gần biên giới Mỹ), trong quá trình hoạt động đã thải một lượng khí thải rất lớn với hàm lượng độc hại cao vào bầu khí quyển. Khí thải đã bay sang Mỹ làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tại Tiểu bang Oasinhtơn (Mỹ) gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và làm thương tổn đến sức khoẻ của cư dân trong vùng.
Trọng tài quốc tế đã ra bản phán quyết yêu cầu Canađa phải kịp thời ngăn chặn các ảnh hưởng xấu của khí thải tới các quốc gia khác và bồi thường cho Mỹ những thiệt hại do khí thải gây ra. Kết quả giải quyết vụ kiện đã trở thành "thông lệ" để xem xét, giải quyết các tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời là cơ sở khoa học cho việc hình thành nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". [49] Vụ thứ hai: là vụ kiện của hai quốc gia là Australia và New Zealand đối với Pháp khi Pháp tiến hành thử vũ khí hạt nhân vào năm 1973, làm bụi phóng xạ bay sang các quốc gia khác, gây ảnh hưởng đáng kể đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân hai quốc gia trên. [49] Vụ thứ ba: năm 1998, một con tàu của công ty nhựa Formosa, Đài Loan chở 3000 tấn chất thải độc hại có chứa thuỷ ngân đến đổ bất hợp pháp tại một bãi chôn lấp chất thải ở Sihanouk Ville của Campuchia, làm một số người dân tiếp xúc với rác thải bị tử vong.
Campuchia đã mở phiên toà xét xử, phạt tội các chủ tàu 5 năm tù và phạt tiền 0,5 triệu USD.[2] 7 Ngoài ra còn rất nhiều vụ việc có ảnh hưởng tới môi trường xảy ra trên thế giới và tại các nước Châu Á- Thái Bình Dương. Đối với Việt Nam, vấn đề tranh chấp môi trường xuất hiện muộn hơn so với các nước trên thế giới. Trước năm 1986, có thể nói các tranh chấp môi trường dưới các dạng khác nhau dường như chưa xuất hiện trên thực tế, thuật ngữ tranh chấp môi trường cũng chưa được các nhà khoa học gọi tên và đề cập tới trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào. Ở Việt Nam, các tranh chấp môi trường xuất hiện muộn hơn vì các lý do: Thứ nhất: trước năm 1986, nhu cầu khai thác các tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng chưa nhiều, do vậy các hành vi gây suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và huỷ hoại cho môi trường ít xảy ra.
Nếu có thì chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp, mức độ ảnh hưởng không đáng kể đến tính mạng, sức khoẻ của con người. Hơn nữa thời kì này, sự tác động xấu của thiên nhiên và môi trường đến sức khoẻ con người chưa thể hiện nhiều và mức độ chưa cao do chất lượng môi trường sống còn tương đối tốt. Thứ hai: thời kì này, đất nước ta còn nghèo, do vậy mối quan tâm lớn nhất của Đảng và Nhà nước ta là tâp trung phát triển kinh tế, đó cũng là mối quan tâm của từng cá nhân, từng gia đình so với đòi hỏi về chất lượng môi trường sống. Thứ ba: chế độ sở hữu các nguồn tài nguyên, các thành phần môi trường chủ yếu thuộc về Nhà nước mà chưa được giao cho các cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài.
Tình hình này dẫn tới việc những thiệt hại do một số hành vi huỷ hoại môi trường như phá rừng, khai thác bừa bãi nguồn lợi thuỷ sản …ở nơi này, nơi kia đều thuộc về Nhà nước và ít liên quan đến lợi ích riêng của các cá nhân, tổ chức. Kết quả của việc không phân định rõ quyền sở 8 hữu các nguồn tài nguyên, các thành phần môi trường đã dẫn tới sự thiếu trách nhiệm và thiếu sự phản ứng quyết liệt từ phía người dân đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thứ tư : thời kì này, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường cũng như hệ thống các cơ quan tư pháp chưa được thiết lập hoàn chỉnh, bên cạnh đó các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này còn thiếu… Đây chính là trở ngại lớn cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra. Từ năm 1986 trở lại đây, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt.
Kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm như thúc đẩy tăng trưởng, tính cạnh tranh…thì cũng có mặt trái của nó là tác động xấu đến môi trường. Nghị quyết số 41- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã khẳng định: "Môi trường nước ta vẫn bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động: Đất đai bị xói mòn, thoái hoá; Chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; Không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; Khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; Tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; Đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; Điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền núi; Các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường"[3, 1]. Tuy nhiên, hiện nay, mối quan tâm đến chất lượng môi trường 9 sống của con người đang được nâng cao.
Người dân một mặt tham gia tích cực vào hoạt động bảo vệ môi trường, làm sạch môi trường, mặt khác người dân cũng tỏ thái độ phản ứng gay gắt và quyết liệt hơn đối với các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Những yêu cầu của người dân thông qua các đơn kiến nghị, khởi kiện tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật mỗi ngày một nhiều và đa dạng hơn. Những yêu cầu của người dân không chỉ dừng lại ở việc đề nghị các cơ quan quản lý Nhà nước xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, buộc người gây ô nhiễm phải chấm dứt ngay các hành vi gây ô nhiễm hoặc phải chuyển đi nơi khác mà còn đòi hỏi người gây ô nhiễm phải có biện pháp làm sạch, khôi phục lại môi trường đã bị phá huỷ và phải bồi thường các thiệt hại về người và tài sản gây ra đối với họ. Những người dân không chỉ yêu cầu đối với những thiệt hại gây ra do các dự án đang hoạt động mà đối với các dự án trước khi đi vào hoạt động có khả năng gây ô nhiễm, gây tác động xấu đến môi trường không được tiến hành, triển khai các hoạt động ở gần nơi dân cư sinh sống, nếu những dự án này vẫn được triển khai thì chủ dự án, chủ công trình hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp phép phải trả trước cho dân một khoản tiền (tiền bù đắp cho những thiệt hại do chất lượng môi trường suy giảm do công trình, dự án gây ra) hoặc một khoản tiền đủ để họ di dời đi nơi khác có chất lượng môi trường được dảm bảo hơn.
Chúng ta có thể xem xét và phân tích các ví dụ sau để minh hoạ cho khẳng định trên: Ví dụ 1: Vụ đền bù thiệt hại do ô nhiễm nước, gây chết cá ở Tây Ninh: ngày 14/02/1998 cá trên rạch Tây Ninh bị chết hàng loạt. Ngày 16/02/1998 Sở KHCN & MT Tây Ninh tổ chức khảo sát dọc theo rạch và cùng chính quyền địa phương và nhân dân ghi nhận thời điểm cá bị chết nhiều nhất và lấy các mẫu nước tại các vị trí 10 này. Ngày 17/02/1998 cá cảnh nuôi lồng trên sông Vàm Cỏ Tây (là nơi rạch Tây Ninh đổ nước vào) lại bị chết hàng loạt. Ngày 18/02/1998 Sở KHCN& MT, chính quyền địa phương lập biên bản xác định số lượng cá chết cụ thể tại từng điểm, tiếp tục lấy mẫu nước sông tại nhiều điểm trên khu vực cá bị chết.
Sau khi có kết quả phân tích mẫu nước, đã tiến hành thanh tra tình hình kiểm soát ô nhiễm tại công ty đường Bourbon và 9 cơ sở sản xuất bột mì có nguồn phát thải vào sông Vàm Cỏ Tây. Từ kết quả thanh tra và sau khi đã loại trừ nguyên nhân dịch bệnh của cá đã nhận định nguyên nhân gây ô nhiễm rạch Tây Ninh và sông Vàm Cỏ Tây dẫn tới cá chết là do sự cố của công ty đường gây ra là chính. Cũng qua phân tích thành phần mẫu nước tại các điểm cá chết, nhận định có thành phần thành nước thải của 9 cơ sở chế biến bột mì. Thông qua số liệu phân tích thành phần nước thải và tổng sản lượng thải của công ty, thành phần nước sông Vàm Cỏ Tây, tốc độ dòng chảy và thời gian lan truyền của nước thải, thời điểm xảy ra sự cố của công ty (sau khi loại trừ các nguyên nhân khác như dịch bệnh) đã buộc công ty đường Bourbon thừa nhận là bên chủ yếu gây ra ô nhiễm tại các vị trí và các ngày nói trên.
Đồng thời 9 cơ sở chế biến bột mì cũng được mời họp để xem xét các kết quả phân tích và họ đều thừa nhận có góp phần làm ô nhiễm nước sông, dẫn tới cá chết hàng loạt.