CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý người khuyết tật 1. Một số khái niệm *Khái niệm khuyết tật Theo TS. Margaret Chan – Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Orgazination) “Hầu hết mỗi người chúng ta có thể mất khả năng hoạt động bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn tại một thời điểm nào đó”; như vậy giữa người bình thường và NKT hầu như không có ranh giới rõ rệt và hết sức mong manh.Trên thế giới Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 1999 có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý.
Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành (Disability Discrimination Act – DDA), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn[20]. Tại Việt Nam đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng 16 song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy.
Trong các Pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các Bộ luật. Năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ NKT thay cho người tàn tật trong các Bộ luật ban hành có liên quan. *Khái niệm người khuyết tật Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (Americans with Disabilities Act of 1990 - ADA), định nghĩa NKT là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng).
Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này. Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền NKT ban hành năm 2006: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”[4]. Căn cứ điều 2, Chương I, Luật Người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[13]. Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về người khuyết tật, trong 17 khuôn khổ luận văn tôi sử dụng khái niệm người khuyết tậttheo Luật Người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010.
Một số đặc điểmtâm lý, nhu cầu của người khuyết tật Có thể thấy rằng, nhìn chung về mặt thể chất, tâm sinh lý hay về đặc điểm, nhu cầu về mặt xã hội của người khuyết tật hay không khuyết tật đều có một đặc điểm tâm lý, nhu cầu giống nhau. Tâm sinh lý của người khuyết tật vẫn diễn ra và trải qua những cung bậc cảm xúc như người không có khiếm khuyết: buồn, vui, yêu, ghét, giận hờn. Người khuyết tật vẫn có những nhu cầu cá nhân và nhu cầu sinh lý, nhu cầu về mặt xã hội như những người bình thường khác. Đôi khi họ còn có những tâm lý vượt khó, cố gắng gấp nhiều lần người không khuyết tật khác, vì họ cho rằng với hoàn cảnh của họ họ càng cần phải quyết tâm hơn.
Song, do khiếm khuyết về một hay một số bộ phận trên cơ thể cũng khiến cho họ có một số biểu hiện tâm lý, và nhu cầu đặc trưng như: * Tâm lý mặc cảm, tự ti, ỷ lại Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được - chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên. Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người. Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận 18 thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao.
Ngoài ra, còn có những NKT mang tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác, do vậy NVCTH cần phải tham vấn nhằm thay đổi nhận thức của những NKT này mới mong họ có ý chí vươn lên trong cuộc sống, tự bản thân thay đổi không ỷ lại, trông chờ vào người khác. * Nhu cầu được học tập Với những người khuyết tật, họ rất cần sự cảm thông sẻ chia, sự giúp đỡ của cộng đồng để có thể hòa nhập với cuộc sống. Người khuyết tật thường gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập, học nghề như nhận thức chậm, cản trở do đặc điểm khiếm khuyết, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phương tiện đi lại, địa bàn nơi ở không có Trung tâm hay cơ sở dạy nghề. nhưng họ vẫn luôn mong muốn có thể được học tập nhưng bao người, và học tốt như người bình thường.
Họ mong muốn được học hỏi các kiến thức, tìm hiểu, trao dồi hiểu biết, được theo học một ngành nghề mà học thích, họ đam mê. Mong muốn có những hình thức giáo dục phù hợp với những khiếm khuyết của bản thân.Ngoài ra, họ luôn mong muốn có những điều kiện tốt nhất để theo học một nghề nghiệp phù hợp, để sau khi học nghề họ sẽ tìm được một công việc hay tự bản thân có thể từ những gì đã được học kiếm sống và mưu sinh nhằm trang trải cho bản thân, không phụ thuộc vào gia đình, và hơn nữa có thể trợ giúp cho gia đình, hòa nhập cộng đồng. Vì vậy sự giúp đỡ, chia sẻ của mọi người xung quanh là động lực rất lớn để người khuyết tật học tập, học nghề tốt. * Nhu cầu về việc làm Nhìn chung, tất cả các nhu cầu về học tập, dạy nghề và việc làm ở người khuyết tật đều có tỉ lệ cao.
Vì nhu cầu học tập như chiếc cầu nối để khi kết thúc khóa học, mục đích cuối cùng của người khuyết tật là tìm được nghề nghiệp phù hợp. Sau khi học nghề người khuyết tật mong muốn các tổ chức xã hội tạo điều kiện cho những người có khiếm khuyết về bản thân được làm 19 việc, mong muốn có được công việc phù hợp với khiếm khuyết của cơ thể để có thu nhập lo cho bản thân, mong muốn có thể tự bản thân tạo dựng được nghề cho bản thân từ những gì đã được học. Có thể từ những gì được học khởi nghiệp thành công trong một lĩnh vực nào đó mà người khuyết tật ấp ủ ý chí, gây dựng sự nghiệp riêng. Đây đều là những nhu cầu, những mong muốn cơ bản của bất kỳ ai, không riêng gì người khuyết tật.
Nhu cầu việc làm mà nhu cầu thiết yếu nhằm đem lại kinh tế chi tiêu cho bản thân người khuyết tật và phụ giúp gia đình. Những khó khăn người khuyết tật gặp phải * Bị kỳ thị, phân biệt đối xử Kỳ thị là vấn đề thường xảy ra với nhóm thiểu số và mang một số đặc điểm bị cho là bất lợi. Người ta bắt gặp thái độ đó với nhóm người mắc HIV, những người đồng tính luyến ái, tội nhân sau khi ra tù. Người khuyết tật cũng không tránh khỏi và điều đó càng làm họ khó khăn hơn để có được cuộc sống bình thường.
Nghiên cứu của Erving Goffman (1963) đã miêu tả ba loại kỳ thị (Discrimination):(1) "sự ghê sợ về cơ thể" tức là những kỳ thị liên quan đến những biến dạng thể chất; (2) "nhược điểm về tính cách của một cá nhân" chẳng hạn như một người bị coi là thiếu ý chí nếu có những đam mê không bình thường hoặc không trung thực; (3) "kỳ thị bộ lạc", tức là kỳ thị về sắc tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo hoặc là việc tham gia một tổ chức xã hội bị khinh miệt[23]. Sự phân biệt đối xử của cộng đồng là nguyên nhân chính làm cản trở người khuyết tật có cuộc sống tốt đẹp. Cản trở lớn nhất với người khuyết tật là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống. Và kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học kỹ thuật - nó là vấn đề thuộc tâm lý, và sự ý thức sâu xa giá trị sống của con 20 người - mà không phải là lòng thương hại - nhưng là lòng cảm thông thực sự sẽ chỉ hướng cho hành động đúng đắn của chúng ta.
Cho nên, người khuyết tật cần lắm thái độ tôn trọng, không kỳ thị của mọi người để có thể tự tin và vui sống hơn. Đồng thời cũng cần hiểu rằng, bất cứ người lành lặn nào cũng có nguy cơ tiềm ẩn trở thành người khuyết tật.