Chương 1 HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (1946-1949) 1. Chủ trương đối ngoại và chính sách tập hợp lực lượng bên ngoài trong buổi đầu của cuộc kháng chiến 1. Bối cảnh lịch sử 1. Tình hình thế giới và thái độ các nước lớn đối với Việt Nam Tình hình thế giới những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai có những diễn biến phức tạp, tác động tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Chính sách của Mỹ: Đế quốc Mỹ đứng đầu phe đế quốc triển khai chiến lược toàn cầu. Tháng 3-1947, Tổng thống Truman đọc diễn văn trước Quốc hội, chính thức đề ra cái gọi là “sứ mệnh lịch sử” của Mỹ là lãnh đạo thế giới “tự do” và “giúp đỡ” các dân tộc trên thế giới chống lại sự “bành trướng” của nước Nga, bằng mọi biện pháp kinh tế, quân sự. Với sự ra đời của chủ nghĩa Truman, mối quan hệ đồng minh giữa Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây trong thời kỳ chiến tranh chống phát xít đã tan vỡ, thay vào đó là “Chiến tranh lạnh” với sự đối đầu giữa hai cực và hai khối Đông - Tây. Ở châu Á và Đông Nam Á, Mỹ đóng vai trò chi phối hòa bình và an ninh khu vực bằng chính sách thực dân mới.
Mục tiêu của Mỹ là củng cố vai trò lãnh đạo của mình đối với Nhật Bản và khu vực ảnh hưởng ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương, thực hiện chiến lược phong tỏa Liên Xô về phía Đông; đồng thời đối phó với phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Chính sách của Mỹ đối với Đông Dương lúc này là từ chối thừa nhận nền độc lập của Việt Nam và Chính phủ Hồ Chí Minh mà ủng hộ Pháp. Từ giữa tháng 11-1945 đến tháng 3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần gửi điện và thư cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ với những lời khẩn thiết kêu gọi sự ủng hộ chính trị đối với nền độc lập 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Việt Nam trên cơ sở Hiến chương Đại Tây Dương, nhưng không nhận được lời hồi đáp; bởi Mỹ cho rằng “sẽ không có lợi gì trong việc nền cai trị đế quốc thực dân lại được thay thế bởi nền triết lý và các tổ chức chính trị bắt nguồn từ Kremlin và do Kremlin kiểm soát” [1, tr. Bản Chỉ thị gửi các nhà ngoại giao Mỹ ở Pari, Hà Nội và Sài Gòn ngày 13-5-1947 thể hiện rõ nét chính sách của Chính phủ Mỹ đối với Đông Dương là“nhất thiết phải cùng thuyền cùng hội với người Pháp”, bởi “sự liên kết chặt chẽ giữa Pháp và các thành viên trong Liên hiệp Pháp không phải chỉ có lợi cho các nước liên quân, mà còn có lợi cho chúng ta một cách gián tiếp” [1, tr.
Thái độ của Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân: Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân đang bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, bước đầu giành được những thành tựu quan trọng. Liên Xô thực hiện hoàn thành vượt mức kế hoạch khôi phục kinh tế trong 4 năm 3 tháng bằng chính nguồn tài nguyên trong nước. Năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền về bom nguyên tử của Mỹ. Năm 1950, sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng 73% so với trước chiến tranh.
Các nước dân chủ nhân dân như Anbani, Ba Lan, Bungari, Hunggari, Nam Tư, Rumani, Tiệp Khắc. đã lần lượt hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, đạt được những thành tựu lớn trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, Liên Xô và các lực lượng dân chủ tiến bộ cũng chịu ảnh hưởng bởi chính sách toàn cầu của Mỹ. Việc phát động Chiến tranh lạnh, triển khai học thuyết Truman và kế hoạch Marshall, giai cấp tư sản và các thế lực phản động trên thế giới tiến hành một chiến dịch phản công quyết liệt chống lại Liên Xô, các lực lượng dân chủ hòa bình và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Mỹ và đồng minh ra sức gây căng thẳng buộc Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu phải tham gia vào cuộc chạy đua với Mỹ cả về kinh tế và quân sự. Để đối phó với âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch, Liên Xô, một mặt, phải tập trung khôi phục, phát triển kinh tế, tăng cường khả năng quốc phòng; mặt khác, giúp đỡ các nước Đông Âu - vành đai phía Tây của Liên Xô củng cố chế độ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân chủ nhân dân. Với những vấn đề quan trọng đó ở tuyến đầu, vấn đề Việt Nam và Đông Dương chưa thể quan tâm đến. Một số tài liệu mới công bố gần đây đã làm rõ chính sách của Liên Xô đối Việt Nam và Đông Dương trong suốt thời gian dài.
Liên Xô theo dõi sát diễn biến cách mạng ở Đông Dương. Chỉ một tuần sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 20-8-1945, V. Đêkanôdôv - Phó Dân ủy ngoại giao Liên Xô - đã nhận được một bản báo cáo viết tay của A. Bôgômôlôv - Đại sứ Liên Xô tại Pháp - về tình hình Đông Dương.
Báo cáo nêu lên âm mưu của Pháp đối với các nước thuộc địa cũ, đồng thời đề nghị Chính phủ Liên Xô can thiệp để có thể trao Đông Dương nền độc lập cùng với việc đặt Đông Dương dưới sự bảo hộ của Ủy ban quốc tế gồm Mỹ, Anh, Liên Xô, Pháp và Trung Quốc. Khi báo cáo cùng đề xuất nói trên được chuyển về cho C. Kôdưrev - Chủ nhiệm văn phòng châu Âu I, V. Đêkanôdôv đã đưa ra ý kiến như sau: “Theo tôi được biết, chúng ta không giữ lập trường như vậy trong vấn đề này.
Đồng chí Môlôtốp, trong buổi trao đổi với Katơru (Đại sứ Pháp tại Mátxcơva lúc đó) cách đây không lâu đã đưa ra câu trả lời rõ ràng về vấn đề này” [74, tr. Sau đó, trong các tháng 9, 10 năm 1945, Mátxcơva liên tiếp nhận được những bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chính phủ Liên Xô thông báo về tình hình Việt Nam và cuộc gây hấn của Pháp nhưng câu trả lời của Mátxcơva trong trường hợp này là không trả lời. Thế là công văn chính thức, khẩn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa vào kho lưu trữ. Những năm tiếp sau đó, Chính phủ Hồ Chí Minh vẫn không nhận được sự giúp đỡ từ phía Liên Xô cũng như các nước dân chủ Đông Âu khác.
“Không được thế giới cộng sản biết tới”, Hồ Chí Minh phải chấp nhận những “hiệp định” khá mong manh với Pháp để tranh thủ tối đa thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Thái độ của Trung Quốc: Nước láng giềng phía Bắc của Việt Nam, Trung Quốc đang trong tình trạng “nước sôi lửa bỏng”. Nội chiến bùng nổ chấm dứt thời kỳ Quốc - Cộng hợp tác lần thứ hai (1945-1947). Với sự giúp đỡ của Mỹ, Tưởng Giới Thạch đã huy động mọi lực lượng quyết tâm tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc, bởi sự lớn mạnh của Cộng sản nước này sẽ là nguy cơ lớn đối với Mỹ.
Do đó, trước khi cách mạng Trung Quốc thành công, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tập trung lực lượng để giành thắng lợi trong cuộc nội chiến nên chưa có điều kiện giúp cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Tình hình các nước trong khu vực: Các nước trong khu vực như Inđônêxia, Malayxia, Miến Điện. đều bị các nước thực dân Anh, Hà Lan tái chiếm. Đặc biệt, hai nước láng giềng phía Tây là Lào và Campuchia bị thực dân Pháp chiếm đóng trở lại và dùng làm bàn đạp để bao vây, tấn công ta; các vùng biển phía Đông và phía Nam đều bị hạm đội Anh khống chế.
Nhìn chung, thế giới trong những năm đầu kháng chiến có nhiều bất lợi cho ta: Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân - lực lượng đấu tranh và ủng hộ hòa bình, dân chủ thế giới vẫn đang trong quá trình phục hồi, củng cố nội lực; Trung Quốc và các nước trong khu vực đang tự cố gắng giải quyết vấn đề của mình. Bạn đồng minh của ta trước kia là Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầu phản cách mạng, coi Đông Dương là vị trí trọng yếu trong thực hiện chiến lược phòng thủ chống cộng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chúng đang câu kết và ủng hộ thực dân Pháp quyết tâm xâm chiếm nước ta một lần nữa. Việt Nam hoàn toàn cô lập khi bước vào cuộc kháng chiến.
Đó là thử thách hết sức gay go, quyết liệt đối Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Chiến tranh bùng nổ và tính chất cuộc kháng chiến Những cố gắng của Việt Nam trong lựa chọn phương án đàm phán hòa bình để kết thúc xung đột Việt - Pháp đã bị thực dân Pháp hiếu chiến phá hoại. Ngày 7- 11-1946, D’Argenlieu - Cao ủy Pháp ở Đông Dương - ngang nhiên gửi công hàm cho Chính phủ ta khẳng định “Nam Bộ là đất của Pháp” và cho rằng “Ủy ban Hành chính Nam Bộ là bất hợp Pháp”. Ngày 20-11-1946, chúng đồng thời gây hấn ở Hải Phòng và đánh chiếm các vị trí quan trọng ở Lạng Sơn, đổ bộ vào Đà Nẵng.
Ngày 22-11-1946, Valluy - Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương - đã gửi một bức điện về Pari nhằm “đánh lạc hướng” Chính phủ Pháp. Bức điện nói rõ “những tin tức thu nhận được cũng như các tài liệu bắt được xác nhận rằng sự việc này đã được các nhà chức trách Việt Nam sắp đặt tỷ mỷ và trách nhiệm gây hấn rõ ràng không nghi ngờ gì nữa thuộc về phía họ” [76, tr. Tiếp đó, Valluy đã chỉ thị trực tiếp cho Đại tá Dèbes đang đóng quân ở Hải Phòng “cần thiết phải lợi dụng vụ rắc rối 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó để củng cố thêm vị trí Hải Phòng của chúng ta” [76, tr. 292] bằng cách đưa ra những điều kiện buộc Chính phủ Hồ Chí Minh phải chấp thuận: Toàn bộ lực lượng chính quy và bán quân sự của ta phải rút khỏi Hải Phòng và quân đội Pháp được tự do đóng quân trong thành phố.
Từ tháng 12 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng. Ngày 16-12-1946, quân Pháp gây hấn ở Hà Nội, bắn giết dân thường, đánh vào các điểm đề kháng của ta, tiến công chiếm nhiều trụ sở cơ quan Chính phủ.