CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Hình phạt cải tạo không giam giữ 1. Khái niệm Để có một cái nhìn toàn diện về khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ, trước tiên, chúng ta cùng nghiên cứu khái niệm hình phạt.
Hình phạt là gì? Hình phạt là chế định quan trọng của pháp luật hình sự. Hình phạt vừa thể hiện thái độ của Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội vừa là hậu quả pháp lý mà người có hành vi phạm tội phải gánh chịu. Hiện nay, có rất nhiều ý kiến về khái niệm hình phạt được đưa ra, nhưng có hai ý kiến chủ chốt được ghi nhận đó là: Một là, ở thời trung cổ, hình phạt được coi là công cụ trừng phạt người phạm tội. Tổ chức đứng đầu đã nghĩ ra những biện pháp hà khắc, dã man nhất để “trả thù” người phạm tội như: treo cổ, tứ mã phanh thây, đóng đinh, kẹp ngón tay, … Hai là, ở thời kỳ xã hội văn minh và dân chủ, hình phạt lại được coi là công cụ đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Các hình phạt hà khắc, dã man đã được loại bỏ, thay vào đó là những hình phạt mang tính răn đe nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định. Trong khoa học luật hình sự cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhìn chung các quan niệm đó có thể được chia thành ba loại như sau: - Quan niệm đầu tiên đó là, coi hình phạt là công cụ trừng trị người có hành vi phạm tội và lấy sự hà khắc của hình phạt đó để răn đe cho người phạm tội. - Quan niệm thứ hai đó là coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cải tạo, giáo dục cảm hóa người phạm tội.
6 z - Quan điểm thứ ba đó là coi hình phạt là công cụ phòng ngừa tội phạm. Về vấn đề này, trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011) do PGS. Trịnh Quốc Toản chủ biên “Một số vấn đề lý luận về hình phạt trong Luật hình sự” đã tổng kết như sau: “Quan điểm thứ nhất, coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối do I. Hegel, là những triết gia người Đức chủ trương I.
Kant cho rằng, sự bất công do hành vi của người phạm tội gây ra phải được đền bù bằng hình phạt, thông qua đó trật tự pháp luật bị xâm phạm được khôi phục. Việc áp dụng hình phạt nhằm đảm bảo công lý, công bằng. Cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt theo học thuyết hình phạt tuyệt đối, chỉ nằm ở sự trừng trị, trả thù, có nghĩa là bằng việc áp dụng hình phạt, sự bất công mà người phạm tội đã có lỗi gây ra được đền bù công bằng. Hegel lại coi hình phạt là sự phủ định của sự phủ định (Negation der Negation).
Ông cho rằng, tội phạm là sự phủ định các quyền, nên hình phạt là công cụ để phủ định tội phạm, nhằm khôi phục lại các quyền đã bị vi phạm. Hình phạt là sự trừng trị, trả thù của Nhà nước, là điều ác trả bằng điều ác. Hình phạt chỉ có mục đích tự thân, không có mục đích cải tạo, răn đe, phòng ngừa chung. Quan niệm thứ hai, coi hình phạt là công cụ phòng ngừa tội phạm.
Học thuyết về phòng ngừa tội phạm của hình phạt hay còn gọi là học thuyết hình phạt tương đối do Cesare Beccaria, một luật gia người Italia khởi xướng, sau đó là Jeremy Bentham, P. Theo h ọc thuyết này, hình phạt không hướng vào việc trả thù người phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tương lai. Quan niệm thứ ba, coi hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm. Những người đại diện cho quan niệm này là A.
Với nhận thức về hình phạt như trên, nên trong khoa học luật hình sự nước ngoài có những định nghĩa về khái niệm hình phạt như: "Hình phạt là sự trừng trị được luật quy định để phòng ngừa và trấn áp hành vi cấu thành tội phạm gây tổn hại đến trật tự xã hội.; sự trừng trị buộc người phạm tội 7 z phải chịu trong lĩnh vực hình sự thuộc quyền của thẩm phán hình sự, chiểu theo quy định của pháp luật"; "Hình phạt là sự đền bù của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng bằng việc trừng trị các điều ác được làm thích ứng với mức độ của sự bất công và lỗi. Nó là sự khiển trách công khai hành vi trái pháp luật, qua đó khôi phục lại công lý. Ngoài ra, hình phạt cần phải mở rộng sự tác động tích cực vào người phạm tội."[4] Còn trong công tác nghiên cứu, phát triển khoa học luật hình sự Việt Nam, các nhà làm luật đi theo chiều hướng tiến bộ, tích cực về hình phạt, nên đã đưa ra những định nghĩa về hình phạt, ít nhiều có sự khác biệt nhưng cơ bản là thống nhất như sau: GS. Nguyễn Ngọc Hòa nêu quan điểm của mình trong cuốn Trách nhiệm hình sự và Hình phạt: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong LHS, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân"[5] Còn theo GS.
Võ Khánh Vinh trong cuốn Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Toà án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án"[6] Theo PGS. Lê Cảm trong Hình phạt và biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 8, có viết: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự"[7] Tổng kết lại là, trong khi có quá nhiều các định nghĩa khác nhau về khái niệm hình phạt và hầu như mỗi định nghĩa trong số đó đều có những khía cạnh hợp lý thì chúng ta có thể hiểu rằng hình phạt là một phạm trù phức tạp, đa hình đa dạng, không những mang tính khách quan, lịch sử mà còn mang tính giai cấp nữa. 8 z Không một định nghĩa nào có thể khái quát được hết các đặc điểm của hình phạt. Do đó, mục tiêu của các nhà nghiên cứu luật đó là, tìm ra một cái nhìn, một nhận thức thống nhất nào đó, dù chỉ là tương đối, về khái niệm hình phạt.
Sau khi tham khảo các quan điểm về hình phạt, tác giả có đề xuất một định nghĩa về khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất, được quy định trong bộ luật hình sự, do toà án quyết định trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật đối với chính người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Theo từ điển Luật học, cải tạo không giam giữ là việc buộc người phạm tội phải tự cải tạo duối sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Hình phạt cải tạo không giam giữ được đề cập lần đầu tiên trong Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981: “Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì tùy mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm” [9] Tại Điều 6 của pháp lệnh Trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982, hình phạt cải tạo không giam giữ một lần nữa được nhắc đến: “Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng hoá hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan Nhà nước và người tiêu dùng thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm, và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp”.[10] Ở bộ luật hình sự 1999, hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính. Điều 31 bộ luật hình sự năm 1999 ghi nhận những thay đổi về nội dung của hình phạt này như sau: 9 z “1.
Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước.