Luận văn thạc sĩ: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục tiểu học

Luận văn thạc sĩ hệ thống thông tin quản lý giáo dục tiểu học: Nghiên cứu chuyên sâu, giải pháp ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục cấp tiểu học.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1. CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH YÊU CẦU BÀI TOÁN HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC VIỆT NAM

1.1. Khảo sát hiện trạng

1.2. Sơ lược quá trình phát triển giáo dục

1.3. Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay

1.4. Cơ cấu quản lý giáo dục ở Việt Nam hiện nay

1.5. Mô hình HTTT quản lý giáo dục bậc tiểu học hiện tại ở Việt Nam

1.6. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và khả năng đáp ứng yêu cầu quản lý của hệ thống giáo dục bậc tiểu học Việt nam hiện nay

1.7. Yêu cầu của hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Định hƣớng khắc phục

1.8. Định hướng về cơ chế chính sách trong quản lý giáo dục

1.9. Định hướng về công nghệ

1.10. Xác định ý tưởng và Yêu cầu xây dựng HTTT quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống quản lý giáo dục tiểu học Việt Nam

2. CHƢƠNG 2: GIỚI THIỆU QUY TRÌNH PHÂN TÍ CH THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN HƢỚNG CẤU TRÚC

2.1. Khái quát về phƣơng pháp phân tích và thiết kế hƣớng cấu trúc

2.2. Các ưu điểm của Phân tí ch thiết kế hướng cấu trúc so với các phương pháp khác

2.3. Nguyên tắc thiết kế theo chu trình

2.4. Các mô hình phát triển HTTT cơ bản nhất

2.5. Một số khái niệm liên quan đến phương pháp phân tích hướng chức năng (dùng trong đề tài này)

2.6. Quy trình phát triển một HTTT theo hƣớng có cấu trúc

2.7. Tiến trình tổng quát phát triển HTTT

2.8. Mô hình của không gian phát triển một hệ thống

2.9. Các giai đoạn của phân tí ch thiết kế một HTTT

3. CHƢƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU NGHIỆP VỤ CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC

3.1. Phân tích yêu cầu của HTTT quản lý giáo dục bậc tiểu học

3.2. Phân tích và xây dựng hệ thống mã trường chuẩn cho bậc tiểu học trong toàn quốc

3.3. Lưu đồ vận hành PEMIS cấp phòng

3.4. Lưu đồ vận hành PEMIS cấp Sở và cấp Bộ

3.5. Các bảng biểu nghiệp vụ

3.6. Phân tích các yêu cầu chức năng

3.7. Sơ đồ ngữ cảnh của hệ thống

3.8. Sơ đồ phân rã chức năng

3.9. Bảng cân đối ma trận thực thể - chức năng

3.10. Phân tích xử lý: Các sơ đồ luồng dữ liệu các cấp

3.11. Phân tích dữ liệu

3.12. Xác định các thực thể và các thuộc tính

3.13. Xác định các bảng danh mục dữ liệu

3.14. Xác định các mối quan hệ

4. CHƢƠNG 4: THIẾT KẾ HTTT QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC

4.1. Thiết kế cơ sở dữ liệu logic: Sơ đồ E_R

4.2. Thiết kế cơ sở dữ liệu vật lý

4.3. Thiết kế các báo cáo đầu ra

4.4. Xác định sơ đồ luồng dƣ̃ liệu hệ thống

4.5. Xác định các giao diện và hệ thống thực đơn

4.6. Mô hì nh kiến trúc hệ thống

5. CHƢƠNG 5: PHÁT TRIỂN CHƢƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG

5.1. Môi trƣờng thƣ̉ nghiệm

5.2. Cài đặt chƣơng trình

5.3. Kết quả thử nghiệm – Một số giao diện chụp từ chƣơng trình

TÀI LIỆU KHAM KHẢO

Phụ lục 1: DANH MỤC MÃ TỈNH

Phụ lục 2: DANH MỤC MÃ HUYỆN

Phụ lục 3: Danh sách 54 dân tộc sinh sống tại Việt Nam

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hệ thống thông tin quản lý tiểu học EMIS

Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý. Tin học hóa trong quản lý giúp các nhà quản lý điều hành công việc một cách khoa học, chính xác và hiệu quả. Quản lý hệ thống thông tin giáo dục bậc tiểu học tại Việt Nam là một công việc tương đối phức tạp, tốn nhiều thời gian và công sức, đòi hỏi phải thường xuyên theo dõi chính xác một số lượng thông tin rất lớn, phục vụ nhiều đối tượng khác nhau. Chính vì vậy, tin học hóa trong lĩnh vực quản lý giáo dục là một yêu cầu tất yếu. Xuất phát từ vấn đề này, việc xây dựng một hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học (EMIS) là vô cùng quan trọng. Luận văn này tập trung nghiên cứu phương pháp luận và quy trình phân tích thiết kế một hệ thống thông tin (HTTT) quản lý thích hợp nhất cho giáo dục bậc tiểu học. Dựa trên cơ sở đó, hệ thống được thử nghiệm phát triển để đáp ứng các yêu cầu đổi mới. Sau đó, rút kinh nghiệm để hoàn thiện và mở rộng hệ thống lớn hơn. Luận văn có bố cục theo hướng phân tích thiết kế theo hướng cấu trúc bao gồm các chương: xác định yêu cầu, giới thiệu quy trình, phân tích yêu cầu nghiệp vụ, thiết kế và phát triển ứng dụng. Mục tiêu của luận văn là xây dựng một hệ thống thông tin EMIS hiệu quả cho bậc tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng quản lý và giáo dục.

1.1. Vai trò của Hệ thống thông tin quản lý tiểu học hiện nay

Hệ thống thông tin quản lý (MIS) đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện hiệu quả và chất lượng quản lý giáo dục. Trong bối cảnh số hóa ngày càng sâu rộng, EMIS không chỉ giúp tự động hóa các quy trình tác nghiệp mà còn cung cấp dữ liệu chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định. EMIS cho phép nhà quản lý dễ dàng theo dõi tình hình học sinh, giáo viên, cơ sở vật chất và tài chính của trường. Theo Lê Thị Thu Hà trong luận văn thạc sĩ của mình (2009), 'Tin học hóa trong quản lý đã giúp cho các nhà quản lý điều hành công việc một cách khoa học, chính xác, hiệu quả'. Việc số hóa dữ liệu giúp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian và công sức, đồng thời nâng cao tính minh bạch trong quản lý giáo dục.

1.2. Mục tiêu và Phạm vi nghiên cứu Luận văn EMIS

Mục tiêu chính của luận văn này là nghiên cứu phương pháp luận và quy trình phân tích thiết kế một Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học hiệu quả. Luận văn tập trung vào việc xác định các yêu cầu nghiệp vụ, thiết kế cơ sở dữ liệu và giao diện người dùng, cũng như phát triển chương trình ứng dụng thử nghiệm. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các trường tiểu học trên toàn quốc, với trọng tâm là các hoạt động quản lý học sinh, giáo viên, điểm số và cơ sở vật chất. Luận văn không chỉ giới hạn ở việc phân tích lý thuyết mà còn đi sâu vào thực tiễn, thử nghiệm hệ thống trong môi trường thực tế để đánh giá tính khả thi và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai các hệ thống EMIS tương tự trong tương lai.

II. Phân tích Hiện trạng Quản lý Giáo dục tiểu học ở VN

Giáo dục tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em. Việc phân tích hiện trạng quản lý giáo dục tiểu học là vô cùng quan trọng để xác định các vấn đề cần giải quyết và định hướng cho việc xây dựng hệ thống EMIS. Hiện nay, công tác quản lý giáo dục tiểu học còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa. Theo thống kê năm 2008-2009, nước ta có tới 37.796 điểm trường, trong đó có tới hơn 22 nghìn điểm trường lẻ, đây là những điểm yếu trong quản lý giáo dục. Do đó, cần có một hệ thống thông tin quản lý hiệu quả để giải quyết những vấn đề này. Bài viết sẽ đi sâu vào phân tích những khó khăn trong công tác quản lý, cũng như đề xuất các giải pháp khắc phục.

2.1. Khó khăn trong Quản lý Thông tin Giáo dục tiểu học

Quản lý thông tin trong giáo dục tiểu học hiện nay đối mặt với nhiều khó khăn. Việc thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu chủ yếu vẫn thực hiện thủ công, dẫn đến sai sót và chậm trễ. Thông tin thường được lưu trữ phân tán ở nhiều nơi, gây khó khăn cho việc truy xuất và tổng hợp. Việc thiếu một hệ thống EMIS đồng bộ và hiệu quả khiến cho việc quản lý trở nên phức tạp và tốn kém. Ngoài ra, trình độ CNTT của cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế cũng là một rào cản lớn trong việc ứng dụng công nghệ vào quản lý. 'Việc áp dụng những thành tựu của CNTT vào quản lý không chỉ hạn chế ở các cấp địa phương, mà ngay tại Bộ giáo dục và Đào tạo cũng vẫn chưa có một hệ thống thông tin vận hành' trích dẫn từ tài liệu gốc.

2.2. Đánh giá các Hệ thống EMIS Hiện tại và Hạn chế

Hiện nay, một số hệ thống EMIS đã được triển khai trong ngành giáo dục, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Ví dụ, hệ thống EMIS của dự án SMoET mặc dù đã thu thập được thông tin cơ bản về nhà trường, nhưng cấu trúc dữ liệu chưa được tối ưu, phần mềm cơ sở dữ liệu sử dụng ở cấp tỉnh phức tạp và khó duy trì. Hệ thống EMIS của dự án PEDC chỉ dành riêng cho tiểu học, và được xây dựng trên cơ sở dữ liệu Access, với giao diện Visual Basic, thiết kế cơ sở dữ liệu chỉ lưu giữ được dữ liệu của từng năm học một, và được cài đặt trên từng máy tính riêng lẻ. Những hạn chế này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống EMIS hoàn thiện hơn, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý.

2.3. Nhu cầu Xây dựng Hệ thống EMIS Liên thông và Đồng bộ

Để giải quyết những khó khăn và hạn chế trong quản lý giáo dục tiểu học, cần thiết phải xây dựng một hệ thống EMIS liên thông và đồng bộ. Hệ thống này phải có khả năng thu thập, lưu trữ, tổng hợp và cung cấp thông tin kịp thời và chính xác. Ngoài ra, hệ thống cũng cần phải quản lý toàn bộ các thông tin chung về trường học, bao gồm con người (giáo viên, học sinh), thông tin về khối lớp và lớp học, trang thiết bị, cơ sở vật chất, mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng, tài liệu giảng dạy. Đồng thời, hệ thống cũng cần phải tích hợp các phân hệ quản lý giáo dục chi tiết đến từng lĩnh vực, như quản lý tài chính, quản lý học sinh, quản lý nhân sự, quản lý công việc giảng dạy.

III. Thiết kế Hệ thống EMIS theo Hướng Cấu trúc rõ ràng

Việc thiết kế hệ thống EMIS theo hướng cấu trúc là một lựa chọn phù hợp, đảm bảo tính ổn định, dễ sử dụng và dễ bảo trì. Phương pháp này cho phép chia hệ thống thành các module nhỏ, dễ quản lý và phát triển. Các module này sẽ tương tác với nhau thông qua các giao diện chuẩn, đảm bảo tính linh hoạt và khả năng mở rộng của hệ thống. Thiết kế hệ thống cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của phương pháp phân tích thiết kế hướng cấu trúc, như nguyên tắc phân rã chức năng, nguyên tắc dữ liệu hướng đối tượng và nguyên tắc giao diện người dùng thân thiện.

3.1. Mô hình Phân rã Chức năng và Luồng Dữ liệu trong EMIS

Mô hình phân rã chức năng (DFD) là công cụ quan trọng trong việc thiết kế hệ thống EMIS theo hướng cấu trúc. Mô hình này cho phép phân chia hệ thống thành các chức năng nhỏ hơn, dễ quản lý và phát triển. Mỗi chức năng được mô tả chi tiết bằng sơ đồ luồng dữ liệu (DFD), thể hiện cách dữ liệu được xử lý và chuyển đổi trong hệ thống. DFD giúp nhà thiết kế hiểu rõ quy trình nghiệp vụ và xác định các yêu cầu về dữ liệu và chức năng. Bằng cách sử dụng DFD, ta có thể xây dựng một hệ thống EMIS có cấu trúc rõ ràng, dễ hiểu và dễ bảo trì.

3.2. Thiết kế Cơ sở Dữ liệu Quan hệ cho EMIS hiệu quả

Cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS) là lựa chọn phù hợp cho hệ thống EMIS, đảm bảo tính toàn vẹn, nhất quán và hiệu quả trong lưu trữ và truy xuất dữ liệu. Thiết kế cơ sở dữ liệu cần tuân thủ các nguyên tắc chuẩn hóa, giảm thiểu dư thừa và đảm bảo tính linh hoạt trong truy vấn. Các bảng dữ liệu cần được định nghĩa rõ ràng, với các thuộc tính phù hợp và các ràng buộc khóa chính, khóa ngoại. Mô hình thực thể liên kết (ERD) là công cụ hữu ích trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu, giúp nhà thiết kế hiểu rõ mối quan hệ giữa các thực thể và xây dựng cơ sở dữ liệu hiệu quả.

3.3. Xây dựng Giao diện Người dùng Thân thiện trong EMIS

Giao diện người dùng (UI) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính dễ sử dụng và hiệu quả của hệ thống EMIS. Giao diện cần được thiết kế thân thiện, trực quan và dễ hiểu. Các chức năng cần được sắp xếp hợp lý, với các biểu tượng và hướng dẫn rõ ràng. Người dùng cần dễ dàng tìm kiếm, nhập liệu và truy xuất thông tin. Thiết kế giao diện cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về thiết kế UI, như nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc phản hồi và nguyên tắc kiểm soát. Giao diện cần được kiểm thử và đánh giá bởi người dùng để đảm bảo tính khả dụng và hiệu quả.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu Hệ thống EMIS

Sau khi thiết kế hệ thống EMIS, cần tiến hành phát triển chương trình ứng dụng và thử nghiệm trong môi trường thực tế. Quá trình phát triển cần tuân thủ các quy trình kiểm thử nghiêm ngặt, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của hệ thống. Kết quả thử nghiệm sẽ cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống, cũng như xác định các vấn đề cần cải thiện. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống EMIS sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục tiểu học, cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho việc ra quyết định.

4.1. Môi trường Thử nghiệm và Cài đặt Hệ thống EMIS hoàn chỉnh

Môi trường thử nghiệm cần được thiết lập sao cho tương đồng với môi trường thực tế, bao gồm phần cứng, phần mềm và dữ liệu. Quá trình cài đặt cần được thực hiện theo hướng dẫn chi tiết, đảm bảo tính ổn định và tương thích của hệ thống. Việc cài đặt cần được kiểm tra và xác nhận bởi người dùng trước khi đưa vào sử dụng chính thức. Quá trình này cần được thực hiện cẩn thận để phát hiện và khắc phục các lỗi có thể xảy ra.

4.2. Đánh giá Hiệu quả và Khả năng Ứng dụng Hệ thống EMIS

Đánh giá hiệu quả của hệ thống EMIS cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, như thời gian xử lý, độ chính xác của dữ liệu, tính dễ sử dụng và khả năng đáp ứng yêu cầu của người dùng. Khả năng ứng dụng của hệ thống cần được đánh giá dựa trên các yếu tố như chi phí, nguồn lực và trình độ CNTT của cán bộ quản lý giáo dục. Kết quả đánh giá sẽ cung cấp thông tin quan trọng để cải thiện hệ thống và đưa ra các khuyến nghị cho việc triển khai rộng rãi.

4.3. Các Giao diện Chụp từ Chương trình và Kết quả Thử nghiệm

Các giao diện chụp từ chương trình sẽ cung cấp cái nhìn trực quan về hệ thống EMIS, giúp người đọc hiểu rõ cách hệ thống hoạt động và tương tác với người dùng. Kết quả thử nghiệm sẽ cho thấy hệ thống có đáp ứng được yêu cầu về hiệu năng, độ tin cậy và tính dễ sử dụng hay không. Các giao diện chụp và kết quả thử nghiệm cần được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu và dễ theo dõi.

V. Kết luận và Định hướng Phát triển Hệ thống EMIS Tương lai

Luận văn đã trình bày một quy trình phân tích thiết kế và phát triển hệ thống EMIS cho giáo dục tiểu học theo hướng cấu trúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống có tiềm năng lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Tuy nhiên, để hệ thống có thể được triển khai rộng rãi, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà quản lý giáo dục, nhà phát triển phần mềm và người dùng. Định hướng phát triển hệ thống EMIS trong tương lai cần tập trung vào việc tích hợp các công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (ML), để cung cấp các chức năng thông minh và tự động hóa các quy trình quản lý.

5.1. Tóm tắt Kết quả Nghiên cứu và Đóng góp Thực tiễn của EMIS

Luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu quan trọng, bao gồm việc xác định các yêu cầu nghiệp vụ, thiết kế cơ sở dữ liệu và giao diện người dùng, cũng như phát triển chương trình ứng dụng thử nghiệm. Đóng góp thực tiễn của luận văn là cung cấp một mô hình hệ thống EMIS có cấu trúc rõ ràng, dễ hiểu và dễ bảo trì, cũng như các khuyến nghị cho việc triển khai hệ thống trong thực tế.

5.2. Hạn chế và Khuyến nghị cho Nghiên cứu Tiếp theo EMIS

Luận văn vẫn còn một số hạn chế, như phạm vi nghiên cứu chưa bao phủ hết các hoạt động quản lý giáo dục tiểu học, và chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống. Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc mở rộng phạm vi nghiên cứu, tích hợp các công nghệ mới và đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống.

5.3. Tầm nhìn về Hệ thống EMIS Thông minh trong tương lai

Tầm nhìn về hệ thống EMIS trong tương lai là xây dựng một hệ thống thông minh, có khả năng tự động hóa các quy trình quản lý, cung cấp các thông tin dự báo và đưa ra các quyết định thông minh. Hệ thống sẽ sử dụng AI và ML để phân tích dữ liệu, phát hiện các xu hướng và đưa ra các khuyến nghị cho việc cải thiện chất lượng giáo dục. Hệ thống cũng sẽ tích hợp các công nghệ mới, như Internet of Things (IoT) và blockchain, để thu thập dữ liệu từ các thiết bị và đảm bảo tính bảo mật của thông tin.

23/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Xác định yêu cầu bài toán Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học Việt Nam. Chương 2: Giới thiệu quy trình phân tí ch thiết kế HTTT hƣớng cấu trúc. Chương 3: Phân tích các yêu cầu nghiệp vụ của Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học Chương 4: Thiết kế Hệ thống thông tin quản lý giáo dục bậc tiểu học. Chương 5: Phát triển (thử nghiệm) chƣơng trình ứng dụng.

Tài liệu tham khảo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 1: XÁC ĐỊNH YÊU CẦU BÀI TOÁN HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẬC TIỂU HỌC VIỆT NAM 1. Khảo sát hiện trạng 1. Sơ lược quá trình phát triển giáo dục Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến Kể từ thời các vua Hùng dựng nƣớc cho tới khi Ngô Quyền xƣng vƣơng, đánh tan quân Nam Hán, chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc, hầu nhƣ không có tài liệu nói về giáo dục (với nghĩa hẹp là dạy và học chữ).

Tuy nhiên, căn cứ vào việc sử sách ca ngợi công lao của thái thú Sỹ Nhiếp mở mang việc học tại Giao Chỉ và một số đoạn nói về một vài ngƣời Việt đỗ đạt và làm quan ở phƣơng Bắc, có thể nói trong thời Bắc thuộc đã có một tầng lớp ngƣời Việt biết chữ [3]. Hơn nữa, cùng với việc du nhập đạo Phật, chắc chắn chùa chiền phải là nơi dạy chữ để đào tạo các nhà sƣ và truyền bá kinh kệ. Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ hai, cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nƣớc phong kiến Việt Nam (đƣợc ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám Thăng Long, do vua Lý Nhân Tông cho thành lập vào năm 1076.

Sau này, triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế. Ngày nay, Quốc Tử Giám Thăng Long đƣợc xem là trƣờng đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau khi mở mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nƣớc phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt động giáo dục ở địa phƣơng. Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tƣơng đƣơng với cấp tỉnh ngày nay) để lo việc giáo dục [3].

Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ. Các phủ, lộ đều có trƣờng công [6]. Trong hệ thống giáo dục quốc dân thời phong kiến, bên cạnh một số lƣợng không nhiều các trƣờng công, tại nhiều làng xã, đã có những gia đình mời thầy đến ở trong nhà, dạy con em mình và thanh thiếu niên trong làng. Nhà chủ chịu trách nhiệm chu cấp cho thầy.

Nhƣ vậy, từ xa xƣa dạy học đã là một nghề. Từ ngày độc lập đến kháng chiến thứ nhất thắng lợi (1945-1954) Sau khi nhân dân giành đƣợc chính quyền và tuyên bố nền độc lập của đất nƣớc, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời (3-9- 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm” là ba nhiệm vụ trọng yếu của Chính phủ và nhân dân ta TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ngày 6-9-1945, Ngƣời đã gửi thƣ cho học sinh nhân dịp khai giảng năm học 1945-1946, khẳng định sự ra đời của một nền giáo dục mới với sứ mệnh phục vụ công cuộc giữ gìn độc lập và phục hƣng đất nƣớc, trong đó chỉ rõ mục đích học tập của thế hệ trẻ mà cũng là nhiệm vụ chiến lƣợc của nền giáo dục mới là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tƣơi đẹp”, “dân tộc Việt Nam sánh vai với các cƣờng quốc năm châu”[1]. Song song với việc tổ chức để các trƣờng mở cửa, tiếp tục công việc giảng dạy, học tập, Bộ Giáo dục cố gắng giúp Chính phủ kiến tạo cơ sở pháp lý cho chính sách giáo dục của chế độ mới.

Năm 1946, trong bối cảnh phải tập trung đối phó với mƣu mô gây chiến của các thế lực thực dân, Chính phủ đã ban hành hai sắc lệnh: số 146-SL và số 147-SL. [1] Nội dung chủ yếu của hai sắc lệnh này là: (i) Khẳng định tôn chỉ của nền giáo dục nƣớc nhà là phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ; ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục là: dân tộc, khoa học, đại chúng. (ii) Xác định cơ cấu của nền giáo dục mới, sau giáo dục ấu trĩ (tiền học đƣờng), có ba cấp học: Đệ nhất cấp, là bậc học cơ bản, thực hiện trong 4 năm học. Đệ nhị cấp, có hai ngành: (i) ngành học tổng quát gồm hai bậc: bậc phổ thông 4 năm và bậc chuyên khoa 3 năm; (ii) ngành học chuyên môn, gồm hai bậc: bậc thực nghiệm 1 năm và bậc chuyên nghiệp từ 1-3 năm (tuỳ theo ban).

Đệ tam cấp, có đại học (gồm các ban: văn khoa, khoa học, pháp lý.) và cao đẳng chuyên môn, sinh viên học ít nhất 3 năm. Tiếp nối đại học là các “nghiên cứu viện”. Song song với ba cấp học là ba cấp của ngành sƣ phạm, gồm sƣ phạm sơ cấp, sƣ phạm trung cấp, sƣ phạm cao cấp. (iii) ấn định những điều khoản pháp lý để thực hiện bậc học cơ bản: tất cả trẻ em từ 7-13 tuổi đều có thể đến trƣờng, không phải trả tiền học và từ năm 1950 sẽ là bậc học cƣỡng bách.

Giáo dục Việt Nam trong những năm đất nước bị tạm thời chia cắt- Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2) Ở miền Bắc Sau khi hoà bình đƣợc lập lại, trên miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp quản giáo dục ở vùng mới giải phóng và tích cực chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục (thứ hai) trong bối cảnh vừa phục hồi kinh tế, xây dựng miền Bắc vừa đấu tranh thực hiện thống nhất nƣớc nhà. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Thông qua cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm tại vùng mới đƣợc giải phóng và hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm ở vùng tự do đã đƣợc thống nhất thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm (cấp I có 4 lớp, cấp II có 3 lớp, cấp III có 3 lớp)1. Hệ thống này ít nhiều mô phỏng theo hệ thống giáo dục của Liên Xô lúc đó. Để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, Chính phủ chủ trƣơng “Tận lực phát triển giáo dục phổ thông”.

Đến cuối kỳ kế hoạch 5 năm (1961-1965), mạng lƣới trƣờng lớp đƣợc mở rộng: phần lớn các xã có trƣờng cấp I; hai hoặc ba xã có một trƣờng cấp II; phần lớn các huyện có trƣờng cấp III. Loại trƣờng vừa dạy tri thức phổ thông, vừa dạy kỹ thuật sản xuất ra đời nhƣ trƣờng phổ thông công nghiệp ở thành phố, trƣờng phổ thông nông nghiệp ở nông thôn, trƣờng thanh niên dân tộc vừa học vừa làm ở các tỉnh miền núi. Thực hiện chủ trƣơng của Chính phủ, ở hầu hết các xã trên miền Bắc, nhân dân thành lập “Ban bảo trợ học đƣờng”, huy động sức ngƣời, sức của xây dựng các trƣờng cấp I, cấp II, đề cử ngƣời ở địa phƣơng làm giáo viên, tự định mức đóng góp để trả lƣơng thầy, từ đó xuất hiện hình thức trƣờng dân lập. Chính phủ quy định: giáo viên dân lập và giáo viên quốc lập hƣởng mọi chính sách, chế độ nhƣ nhau, chỉ khác tiền lƣơng của giáo viên dân lập do ngân sách địa phƣơng đài thọ, có sự hỗ trợ thích đáng của nhà nƣớc [1].

Ở miền Nam Trong thời kỳ 1954-1975, ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, cũng nhƣ về sau này ở vùng giải phóng, hoạt động giáo dục vẫn diễn ra để đáp ứng nhu cầu học tập của ngƣời dân và đảm nhiệm chức năng đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục ở hai vùng có đặc điểm riêng, thậm chí đối nghịch nhau. Ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, nền giáo dục chuyển dần từ chỗ chịu tác động và ảnh hƣởng của nền giáo dục Âu Pháp sang chịu tác động và ảnh hƣởng của nền giáo dục Bắc Mỹ. Hệ thống giáo dục phổ thông trải qua một vài lần thay đổi, song vẫn theo cơ cấu khung: tiểu học (5 năm), trung học cấp thấp (4 năm), trung học cấp cao (3 năm) gồm nhiều ban.

Ở vùng giải phóng, Bộ Giáo dục trong Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành chƣơng trình phổ thông 12 năm, với loại sách giáo khoa khác hẳn sách giáo khoa dùng trong vùng tạm chiếm. Bộ chƣơng trình và sách giáo khoa này có nhiều cải tiến cả về nội dung và phƣơng pháp so với chƣơng trình và sách giáo khoa 10 năm ở miền Bắc [1]. 1 Thực chất, chƣơng trình giáo dục phổ thông còn có lớp vỡ lòng, dạy học sinh tập đọc, tập viết trƣớc khi vào lớp 1. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thời kỳ từ 1975 đến 1986 - Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba Trong khi thực hiện những nhiệm vụ khẩn cấp trƣớc mắt đối với giáo dục miền Nam và tiếp tục phát triển giáo dục ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ cũng khẩn trƣơng chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục nhằm tiến tới một nền giáo dục quốc dân thống nhất phù hợp với chiến lƣợc tái thiết và phát triển đất nƣớc.

Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, [1] [2] theo đó, những định hƣớng có tính nguyên tắc cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này là: Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trƣởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con ngƣời phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá - tƣ tƣởng); đào tạo và bồi dƣỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động phù hợp yêu cầu phân công lao động xã hội [1] [2]. Về nội dung giáo dục: Hƣớng vào việc “Nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ), tạo ra những lớp ngƣời lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân…” [1] [2] Về nguyên lý giáo dục: Yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trƣờng gắn liền với xã hội [1] [2].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ