Chương 1 CHỦ ĐỀ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG 1. Chủ đề và hệ thống chủ đề trong văn học trung đại Việt Nam 1. Khái niệm chủ đề Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, mục từ chủ đề được giảng như sau: “Vấn đề chủ yếu được quán triệt trong nội dung một tác phẩm văn học nghệ thuật, theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định” [29; tr. Nhìn từ góc độ lý thuyết và lịch sử văn học, chủ đề là một nội dung cơ bản, được nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết văn học đề cập tới.
Chủ đề thường được xem là một thành tố cấu thành nội dung tư tưởng tác phẩm, nó thường gắn với vấn đề hiện thực, vấn đề con người mà nhà văn mong muốn phản ánh. Trong giáo trình Lý luận văn học, nhà nghiên cứu Phương Lựu cho rằng: “Chủ đề là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực nhà văn chẳng những xác định một phạm vi hiện tượng đời sống mà còn tập trung soi rọi một số vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó” [20; tr. Thống nhất với quan điểm trên, trong Từ điển thuật ngữ văn học, các soạn giả đã viết rõ và gọn hơn.
Các nhà nghiên cứu cho rằng chủ đề là “vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học” [11; tr. Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa: “Chủ đề là vấn đề (triết lí, xã hội, đạo đức, và các loại hình tư tưởng khác) được đặt ra trong tác phẩm” [2; tr. e 19 Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận thấy, chủ đề là vấn đề cơ bản, quan trọng trong hệ thống nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học. Nó quy định nội dung, cảm hứng, thôi thúc tác giả tìm kiếm các hình thức nghệ thuật để thể hiện ra trong tác phẩm của mình.
Nó cũng được xem là một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị tác phẩm. Chẳng hạn, qua Vợ nhặt, Kim Lân đã phản ánh cuộc sống khốn khổ của những người dân lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 và tình cảm hướng về cách mạng của họ. Đồng thời, tác phẩm cũng nêu lên một vấn đề có ý nghĩa nhân bản sâu sắc: Đó là tình người trong cuộc sống nghèo đói của người lao động khi miếng ăn trở thành vấn đề sống còn. Đúng như Tố Hữu đã từng khẳng định: Vấn đề của nghệ thuật chính là chủ đề, nói nôm na cho dễ hiểu là câu hỏi – câu hỏi cuộc đời.
Thông qua chủ đề, người đọc có thể nhận thức được khả năng thâm nhập vào đời sống, chiều sâu tư tưởng và cả bản sắc tư duy nghệ thuật của nhà văn. Từ sự chi phối của tư tưởng cá nhân của mỗi nhà văn, cách tiếp cận chủ đề cũng như phạm vi chủ đề mà họ đề cập tới trong mỗi tác phẩm là khác nhau. Nhờ sự khác nhau ấy, nhà văn đã mở ra những bình diện, những con đường khác nhau để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm của mình. Chủ đề là một yếu tố thuộc phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.
Nó được bộc lệ trực tiếp trong lời phát biểu của tác giả, được đặt ra qua việc miêu tả các biến cố, các cảnh ngộ dữ dội, khác thường và được cụ thể hóa qua hệ thống hình tượng, nhân vật (chủ yếu là nhân vật chính) mà tác giả xây dựng trong tác phẩm. Trong Tre Việt Nam, thông qua hình ảnh cây tre, Nguyễn Duy đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp (siêng năng, cần cù, chịu thương, chịu khó) cũng như sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trên mọi chặng đường lịch sử. Chủ đề của tác phẩm không phụ thuộc vào thể loại hay dung lượng tác phẩm. Chủ đề tuyên ngôn khẳng định chủ quyền quốc gia vừa được thể hiện hàm súc trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Nam quốc sơn hà của Lý e 20 Thường Kiệt, vừa được thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết theo thể chính luận hiện đại, lý lẽ sắc xảo, thuyết phục.
Trong một tác phẩm văn học thường không chỉ có một chủ đề duy nhất mà có nhiều chủ đề gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống chủ đề. Chính hiện thực đời sống với nhiều sự kiện, mâu thuẫn và tình cảnh khác nhau là cơ sở hình thành hệ thống chủ đề đa dạng, phong phú. Trong hệ thống chủ đề đó, có chủ đề chính và các chủ đề phụ đan xen lẫn nhau. Chủ đề chính chịu trách nhiệm quán xuyến toàn bộ nội dung của tác phẩm.
Chủ đề phụ có ý nghĩa bộ phận, vây quanh chủ đề chính, góp phần làm nổi bật chủ đề chính. Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng có nhiều chủ đề: tệ nạn xã hội, vấn đề đạo đức, vấn đề cái dâm và sự tha hóa của nhân cách, trong đó chủ đề vấn đề đạo đức là chủ đề chính. Tác phẩm càng có nhiều chủ đề thì khả năng bao quát hiện thực và chiều sâu tư tưởng của nhà văn càng lớn. Và trong một tác phẩm, các chủ đề không có giá trị ngang nhau nên việc xác định đúng đắn chủ đề chính, chủ đề phụ sẽ góp phần lý giải ý nghĩa của tác phẩm.
Nhìn từ mối quan hệ giữa chủ đề và đề tài, đề tài đóng vai trò là nền tảng để phát triển chủ để, chủ đề là phương diện chính yếu của đề tài. Nghĩa là, chủ đề bao giờ cũng được hình thành và thể hiện trên cơ sở đề tài. Chủ đề không phải là cái gì đó nằm bên ngoài đề tài mà xuất phát từ ý đồ, từ những gợi ý của hiện thực khách quan thông qua cái nhìn, quan niệm của nhà văn. Những đề tài quan trọng sẽ góp phần tạo nên những chủ đề lớn.
Từ một đề tài, mỗi nhà văn lại có cách thể hiện khác nhau với nhiều chủ đề khác nhau, tùy vào cách nhìn nhận, đánh giá của nhà văn với hiện thực. Nếu như đề tài là khái niệm chỉ phạm vi hiện thực mà nhà văn miêu tả, phản ảnh trong tác phẩm thì chủ đề lại chỉ ra mối quan tâm đặc biệt của nhà văn về những vấn đề nào đó trong cái phạm vi hiện thực kia. Nếu như đề tài trả lời câu hỏi: “Tác e 21 phẩm viết về ai? Về cái gì?” thì chủ đề lại giải đáp câu hỏi: “Vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì?”. Nhìn từ góc độ nội tại của tác phẩm văn chương, chủ đề gắn liền với tư tưởng.
Chủ đề và tư tưởng là những cơ sở trực tiếp định hướng cho lao động của nhà văn, cũng là những thành tố quan trọng góp phần tạo nên những giá trị thẩm mĩ. Bằng những chủ đề và tư tưởng có ý nghĩa, giàu sức khám phá, được thể hiện một cách độc đáo, hấp dẫn, tác giả tham gia vào đời sống văn học cũng như cuộc đấu tranh xã hội ở thời đại mình. Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là nơi khẳng định những tư tưởng sâu sắc, mới mẻ về cuộc sống qua sức mạnh truyền cảm của nghệ thuật. Đề tài, chủ đề và tư tưởng là những khía cạnh thuộc về phạm trù nội dung của tác phẩm văn học.
Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên để giải quyết trong tác phẩm. Qua chủ đề, ta có thể hiểu được chiều sâu tư tưởng, sự độc đáo trong tư duy nghệ thuật cũng như sự nhạy bén đặc biệt trước hiện thực cuộc sống của nhà văn. Đồng thời, chủ đề đóng vai trò rất lớn trong việc tạo nên giá trị độc đáo và tầm vóc của tác phẩm, khẳng định đóng góp của cá nhân nghệ sĩ, từ đó tác động vào nhận thức tư tưởng của người đọc.
Hệ thống chủ đề trong văn học trung đại Việt Nam Nhìn trong tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam, hệ thống chủ đề rất đa dạng, phong phú. Các tác giả hướng ngòi bút của mình đến những vấn đề lớn lao của lịch sử, của đất nước và con người, đồng thời cũng phản ánh những khía cạnh phức tạp của cuộc sống và những tâm trạng thầm kín, riêng tư của mỗi cuộc đời. Chúng tôi xin điểm qua một số chủ đề phổ biến e 22 của văn học trung đại Việt Nam, bao gồm chủ đề về thiên nhiên, chủ đề về tinh thần yêu nước, chủ đề về quyền sống của con người và chủ đề về đời tư. Thứ nhất là chủ đề về thiên nhiên.
Trong sáng tác của các thi sĩ trung đại hình như không thể vắng bóng thiên nhiên. Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm. Từ những bài thơ chữ Hán sang trọng đến những bài thơ Nôm Đường luật bình dị, thiên nhiên hiện lên sinh động, muôn hình muôn vẻ. Lã Nhâm Thìn trong Thơ Nôm Đường luật đã từng nhấn mạnh: “Có thể tìm thấy một cuốn bách khoa toàn thư về cỏ cây, muông thú, sản vật.
của thiên nhiên Việt Nam, hết sức dân tộc và dân dã. trong Đường luật Nôm” [46; tr. Thiên nhiên lúc này vừa là đối tượng miêu tả, vừa là đối tượng tâm sự của thi nhân. Thiên nhiên trở thành điểm tựa tinh thần, là nơi gửi gắm những tư tưởng, tình cảm của con người.
Con người đến với thiên nhiên là đến với niềm vui sống, an hưởng những lạc thú ở đời. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến quy ẩn bằng cách trở về với thiên nhiên để tìm lại sự tĩnh tại. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đắm mình trong lạc thú của thiên nhiên. Thiên nhiên là bầu bạn, cho nên nhà thơ đã quét am để đón mây, dành ao để chờ trăng, giữ rừng để đợi chim: “Bẻ cái trúc hòng phân suối/ Quét con am để chừa mây/ Trì tham nguyệt hiện, chẳng buông cá/ Rừng tiếc chim về, ngại phát cây” (Mạn thuật, bài 6).
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ thu (Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh). Đó là những bức tranh đặc sắc về mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Nếu không trải lòng mình vào thiên nhiên làm sao nhà thơ có thể vẽ được bức tranh đậm đà phong vị quê hương đến thế: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo/ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí/ Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo” (Thu điếu). e 23 Dường như không có hình ảnh thiên nhiên nào trong thơ Nguyễn Khuyến lại không mang tâm trạng của ông.