Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ LƯƠNG VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1997 1. Khái quát về huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên và địa hình Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Năm 2017, Phú Lương có diện tích 35071 Km2 với dân số 94.203 người (trong đó, dân số ở nông thôn khoảng 87 nghìn người.
Phía Bắc giáp huyện Bạch Thông, phía Đông giáp huyện Võ Nhai, phía Nam và phía Đông Nam giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ. Phú Lương có 13 xã, 2 thị trấn và có giới hạn từ 21035’23’’ - 21055’06’’ vĩ độ Bắc và 105037’04’’ - 105048’02’’ kinh độ Đông. Trong lịch sử, địa danh và địa giới huyện Phú Lương có nhiều sự thay đổi. Ngày 18 - 12 - 1996, quán triệt Nghị Quyết kì họp thứ 10 Quốc hội khóa IX và chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tái lập tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy cùng với Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân huyện Phú Lương đã tổ chức lễ bàn giao 10 xã phía Bắc huyện (Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Chợ Mới, Yên Đĩnh, Quảng Chu, Như Cố, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư) về huyện Bạch Thông của tỉnh Bắc Kạn tại Thị trấn Đu.
Năm 2013, thực hiện Nghị quyết 124/NQ - CP của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên về điều chỉnh địa giới hành chính xã Động Đạt và Phấn Mễ để mở rộng địa giới hành chính thị trấn Đu. Một số xóm thuộc xã Động Đạt (Xóm Cây Châm, xóm Cầu Lân, Xóm Tân Lập) và Phấn Mễ (xóm Lân 1, xóm Lân 2, xóm Tràng Học, xóm Mấu 2) được sát nhập vào thị trấn Đu. Đến năm 2017, thực hiện điều chỉnh địa giới và hành chính, xã Sơn Cẩm đã chuyển về thành phố Thái Nguyên. Đến năm 2019, huyện Phú Lương bao gồm 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc và 2 thị trấn là thị trấn Đu và thị trấn Giang Tiên cùng với đó là 13 xã là Yên Ninh, Cổ Lũng, Tức Tranh, Động Đạt, Ôn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lương, Hợp Thành, Phấn Mễ, Vô Tranh, Phú Đô, Phủ Lý, Yên Đổ, Yên Lạc, Yên Trạch) bao gồm 240 xóm, 14 tổ dân phố.
Huyện Phú Lương được chia thành 2 vùng rõ rệt với nhiều đồi núi dốc, do đó có địa hình khá phức tạp. Phía Bắc, gồm các xã Hợp Thành, Ôn Lương, Phủ Lý, Yên Lạc, Yên Ninh, Yên Trạch. Các xã này có địa hình dốc, đồi núi và khá phức tạp. Giao thông và cơ sở hạ tầng ở đây tương đối khó khăn (độ dốc: 250 - 300 và độ cao từ 500m - 1000m).
Phía Nam của huyện gồm thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên, xã Phấn Mễ, xã Động Đạt, xã Vô Tranh. Địa hình ở các xã, thị trấn này chủ yếu là đồi, núi thấp và các thung lũng (độ dốc: 150 - 250 và độ cao từ 100m - 300m). Núi ở đây thường đan chéo vào nhau với các đồi núi cao, tạo nên các bậc thềm lớn. Địa hình huyện Phú Lương nằm trong phần sau của cánh cung Ngân Sơn và hệ kiến tạo hình thành của địa hình tỉnh Thái Nguyên.
Huyện Phú Lương có nhiều đồi núi thấp, đồi núi đá vôi với dạng đồi bát úp, sườn thoải gồm các loại sa phiến thạc, một số đồi núi đã thành các ruộng bậc thang trong quá trình người dân khai phá. Huyện Phú Lương có hệ thống sông, suối tương đối lớn. Ao, hồ, sông, suối trong địa bàn huyện chạy qua 5 xã, thị trấn. Đó là, thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên, Yên Đổ, Cổ Lũng và Phấn Mễ.
Trong đó, các xã Vô Trang, Tức Tranh, Sơn Cẩm và Phú Đô nằm cạnh sông Cầu - một con sông bắt nguồn từ Bắc Cạn có chiều dài 17km. Con sông này vừa đen lại nguồn tưới tiêu lớn cho các xã phía Nam của huyện vừa là nơi phân chia địa danh giữa huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương. Sông Đu và các nhánh sông Đu tương đối lớn với tổng chiều dài khoảng 45m (trong đó, nhánh sông chính dài khoảng 10km). Sông nằm ở phía Bắc của huyện, ngoài cung cấp nước tưới, sông Đu còn cung cấp lượng thủy sản khá dồi dào “cơm làng Giá, cá chợ Đu”.
Như vậy, với hệ thống sông, suối, ao, hồ tương đối lớn và phân bố đồng đều ở các vùng đã đủ phục vụ nhu cầu cho người dân trong huyện sinh hoạt và sản xuất. Từ đó, góp phần nâng cao năng suất và phát triển kinh tế. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về khí hậu, huyện Phú Lương có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và được chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), lượng mưa trung bình hàng năm của huyện từ 1800 - 2000 mm, nhiệt độ từ 250 - 300, độ ẩm khoảng 80%. Vào mùa khô, huyện Phú Lương thường xuyên bị khô hạn do lượng nước bốc hơi vào mùa này cao.
Tuy là một huyện miền núi, nhưng hệ thống giao thông vận tải ở huyện Phú Lương tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh. Trên địa bàn huyện có 3 tuyết đường bộ quan trọng chạy qua: Quốc lộ 3, quốc lộ 37 và đường 254. Trong đó, quốc lộ 3 với chiều dài hơn 50km chạy qua 8 xã và thị trấn là tuyến đường lớn và quan trọng nhất đi qua địa bàn huyện. Quốc lộ 37 qua địa bàn huyện từ ngã ba Bờ Đậu qua huyện Đại Từ sang Tuyên Quang.
Ngoài ra, còn có tuyến đường 254 đi từ km 31 lên huyện Định Hóa (Thái nguyên). Dân cư Trong những năm qua, dân số huyện Phú Lương có nhiều biến động (xem biểu đồ 1. Dân số huyện Phú Lương qua các năm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước Cách mạng Tháng Tám, dân số trong huyện Phú Lương chưa tới 10. Đến 01- 04- 1989, dân số của huyện là 107.390 người, năm 1996 là 110.
Năm 1997, do thay đổi địa giới hành chính, huyện Phú Lương đã bàn giao 10 xã phía Bắc huyện về Bạch Thông tỉnh Bắc Cạn. Vì vậy, dân số trên địa bàn huyện bắt đầu giảm. Đến năm 2006, dân số huyện Phú Lương là 105. Tuy nhiên, đến năm 2017, xã Sơn Cẩm chuyển về Thành phố Thái Nguyên do điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh nên dân số huyện Phú Lương đã bị giảm đáng kể, chỉ còn 94.203 người đến năm 2018 dân số huyện Phú Lương 94.
Phú Lương là một huyện làm nông nghiệp là chủ yếu nên dân số nông thôn chiếm tỉ lệ cao. Theo niên giám thống kê năm 2008, tỉ lệ nông thôn ở huyện Phú Lương lên tới 92,6%, tỉ lệ sống ở thành thị chỉ có khoảng 7,4%. Đến năm 2016, dân số nông thôn ở huyện là 97.300 người, trong khi đó số người sống ở thành thị là 11.950 người [16, tr. Mật độ dân số của huyện trung bình 288 người/km2.
Trong đó, thị trấn Đu có mật độ dân số cao nhất là 18,727 người/km2, Yên Ninh là xã có mật độ dân số thấp nhất là 128 người/km2. Dân cư huyện Phú Lương chủ yếu là dân bản địa sống trên địa bàn huyện từ lâu đời. Một số khác là dân cư các tỉnh miền xuôi như Thái Bình, Nam Định, Hà Tây… di cư lên theo chương trình xây dựng các vùng kinh tế mới của Nhà nước. Huyện Phú Lương là nơi tập trung 08 dân tộc anh em cùng sinh sống.
Những dân tộc này họ sống xen kẽ nhau, đùm bọc và gắn bó với nhau trong sản xuất cũng như trong cuộc sống đời thường như ma chay, cưới hỏi. Đúng như câu tục ngữ của người Tày “Pì nọong tam tó, bó tày pì nọong só rườn”, hay của dân tộc Kinh: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái này trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc trong huyện Phú Lương. Trong sản xuất và đời sống hàng ngày, các dân tộc trên địa bàn huyện Phú Lương luôn cần cù, chịu thương, chịu khó và thông minh.
Công việc chủ yếu của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cư dân là làm ruộng, phát nương làm rẫy. Cư dân ở đây đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất để tăng năng suất lao động và tạo ra những đặc sản vùng, đúng như câu “Cơm làng Giá, cá làng Đu”. Trong quá trình chinh phục thiên nhiên, họ chế tạo ra các loại vũ khí (cung, nỏ…) hay dệt vải, đắp đê trong sinh hoạt và sản xuất. Ngoài cây lúa là chủ đạo, Phú Lương còn phát triển một số loại cây công nghiệp, cây ăn quả nhất là cây chè trên đất Feralit.
Phú Lương là huyện có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc Kinh là đông nhất chiếm hơn 50% dân số. Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu, Thái, Hoa, H’mông và một số dân tộc khác. Các dân tộc trên địa bàn huyền đều mang những phong tục, tập quán và sắc thái riêng của dân tộc mình.
Tiêu biểu, điệu Sli của dân tộc Nùng, hát lượn của dân tộc Tày. Trong những năm gần đây, di sản văn hóa “Lễ hội cầu mưa” của dân tộc Sán Chay ở xã Tức Tranh huyện Phú Lương được công nhận là văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và được nhiều người biết đến. Đây là những món ăn tinh thần nhân dân Việt Nam nói chung và huyện Phú Lương nói riêng. Tình hình giáo dục huyện Phú Lương trước năm 1997 1.
Tình hình giáo dục từ năm 1954 đến năm 1985 Năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” giúp cho miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng và bắt đầu bước vào thời kì xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tháng /1956, chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được ban hành theo đề án cải cách giáo dục lần hai. Hệ thống trường phổ thông 9 năm được thay thế bằng hệ thống giáo dục mới 10 năm gồm 3 cấp học: cấp 1 (từ lớp 1 đến lớp 4); cấp 2 (từ lớp 5 đến lớp 7); cấp 3 (từ lớp 8 đến lớp 10). Huyện Phú Lương cũng như các tỉnh miền núi, thời gian học cấp 1 là 5 năm vì học thêm một lớp vỡ lòng trước khi trẻ bước vào lớp 1.
Thực hiện nghiêm túc chính sách cải cách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1956), đến cuối năm 1957, phần lớn các xã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.