phần mở đầu, 3 chương, kết luận,và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của 3 chương gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật trong các Trường Sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục pháp luật trong các trường sĩ quan khu vực phía Nam. Chƣơng 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong các Trường Sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ thực tiễn các Trường Sĩ quan khu vực phía Nam.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG CÁC TRƢỜNG SĨ QUAN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1. Khái niệm, mục đích, vai trò của giáo dục pháp luật trong các trƣờng sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam 1. Khái niệm giáo dục pháp luật Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hết sức quan trọng, đóng vai trò thiết yếu để mọi chủ thể trong xã hội thực thi pháp luật nghiêm minh và chính xác. Giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực hoạt động của Nhà nước với sự tham gia của các thiết chế xã hội.
Có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về giáo dục pháp luật. Nhìn chung, giáo dục pháp luật được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, giáo dục pháp luật là quá trình tác động, ảnh hưởng của những điều kiện khách quan của đời sống xã hội, môi trường sống, điều kiện sống, làm việc của con người, của cả những yếu tố chủ quan, sự tự giác, tự ý thức, các định hướng xã hội… Giáo dục pháp luật là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan (Chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường sống…) là nhân tố ảnh hưởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo định hướng xác định nhằm đạt được mục đích của chủ thể tác động. Theo nghĩa hẹp, giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân (chủ thể giáo dục) tác động đến đối tượng giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật và tạo lập thói quen tuân thủ pháp luật [19, tr.
7 Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục pháp luật, tác động đến đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật [22, tr. GDPL là lĩnh vực hoạt động bao gồm tất cả các giai đoạn như định hướng GDPL, xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định nội dung GDPL, phương pháp và hình thức GDPL; triển khai thực hiện chương trình GDPL; kiểm tra, đánh giá kết quả GDPL… Giáo dục pháp luật trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một trong những yêu cầu có tính khách quan, cấp thiết, là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hướng tới cung cấp, trang bị cho cán bộ, học viên, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật; từ đó hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, biết tuân thủ, chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội, chế độ quy định của đơn vị; sử dụng pháp luật một cách chủ động, tích cực và đúng đắn; góp phần phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật nói chung, điều lệnh, điều lệ của quân đội nói riêng trong hoạt động thực tiễn, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Xuất phát từ khái niệm GDPL, để đưa ra khái niệm GDPL trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam thì nhất thiết phải đề cập đến các khía cạnh sau: Thứ nhất, GDPL là hoạt động thể hiện sự tương tác giữa chủ thể GDPL và đối tượng GDPL. Theo nguyên tắc đó, GDPL cho SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam cũng là 8 hoạt động thông qua sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng.
Chủ thể GDPL ở đây chính là lãnh đạo, chỉ huy nhà trường, các phòng, khoa, cơ quan, đội ngũ giáo viên giảng dạy pháp luật, đội ngũ cán bộ quản lý. Đối tượng tiếp nhận ở đây chính là SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS đang học tập và công tác trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam. Thứ hai, GDPL trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam là hoạt động có định hướng, có mục đích, bao hàm những tác động tự giác, tích cực, tuân theo kế hoạch đã được xác định của chủ thể GDPL lên đối tượng GDPL là SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS tương ứng với các nội dung cụ thể. Tính có định hướng, có mục đích trong hoạt động của chủ thể GDPL mang tính khách quan, phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống về kiến thức, hiểu biết pháp luật của SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS, được chủ thể GDPL truyền đạt, chuyển hóa nó thành nhu cầu tự thân của đối tượng là SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam.
Quá trình GDPL cho SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS chỉ đạt được mục tiêu, hiệu quả đề ra khi SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam thực sự tự giác, tích cực biến những yêu cầu pháp luật khách quan thành nhu cầu nội tại của bản thân. Thứ ba, quá trình GDPL cho SQ, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS luôn tuân theo nội dung chương trình cụ thể, dựa trên các phương pháp GDPL khoa học, hiện đại và các hình thức GDPL phù hợp với đặc điểm tình hình của từng đơn vị nhằm hiện thực hóa tối ưu các mục tiêu GDPL. Quá trình GDPL phải có kế hoạch, nội dung, phương pháp phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Thứ tư, GDPL trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam, suy cho cùng, phải đạt được mục tiêu, hiệu quả mà chủ thể GDPL đặt ra và cũng là những tiêu chí để đánh giá chất lượng công tác này.
9 Trên cơ sở phân tích các khía cạnh nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa: Giáo dục pháp luật trong các trường sĩ quan của QĐND Việt Nam là hoạt động có định hướng, có tổ chức, do các chủ thể GDPL tiến hành theo chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức nhất định, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng GDPL nhằm hình thành và phát triển ở sĩ quan, HV, QNCN, CNVVCQP, HSQ, BS hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật. Mục đích của giáo dục pháp luật Việc xác định rõ mục đích của GDPL có vai trò rất quan trọng, bởi lẽ nếu xác định không rõ ràng, đúng đắn mục đích thì chủ thể GDPL không thể đưa ra nội dung, phương pháp, hình thức GDPL phù hợp, việc thực hiện GDPL sẽ không hiệu quả. Mục đích của GDPL được xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vào đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng như hình thức giáo dục. Mục đích GDPL phải đạt được ba vấn đề cụ thể sau: Một là, GDPL phải đạt được mục tiêu nhận thức.
GDPL cho bất kỳ đối tượng nào, trước hết, cũng đều nhằm cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức, hiểu biết pháp luật, góp phần hình thành, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật. Đây là mục đích quan trọng đầu tiên mà hoạt động GDPL phải đạt được; bởi lẽ sự hiểu biết pháp luật sẽ là cơ sở để đối tượng GDPL tin tưởng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm sự phát triển tư duy pháp lý, định hướng các hành vi của chủ thể trên thực tế. Để có lòng tin vào các giá trị pháp luật, các chuẩn mực pháp lý cần thiết giúp cho các chủ thể chủ động xác lập hành vi và chịu trách nhiệm về hành vi thì nhất thiết phải có tri thức pháp luật. Tri thức pháp luật không thể là sự hiểu biết đơn giản, phiến diện về một khía cạnh pháp luật nào đó mà nó mang tính hệ thống, logic.
Vì vậy, GDPL là hoạt động nhằm mở rộng khối 10 lượng tri thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật một cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể. Hai là, GDPL có mục đích hình thành, khơi dậy tình cảm và niềm tin đối với pháp luật. Đây cũng là mục đích rất quan trọng; bởi vì, nếu được trang bị kiến thức pháp luật mà không tạo được tình cảm, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật thì con người rất dễ mắc phải các hành vi sai lệch, xa rời các nguyên tắc, quy định của pháp luật để theo đuổi lợi ích riêng. GDPL để hình thành cảm xúc pháp luật chính là giáo dục tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm và tình cảm không khoan nhượng đối với các hành vi phạm tội.
Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục biết nhìn nhận, đánh giá một hành vi nào đó xảy ra là đúng hay sai để từ đó, bày tỏ thái độ bất bình, phê phán, lên án cái sai; bênh vực, ủng hộ và đấu tranh bảo vệ cái đúng dựa trên cơ sở kiến thức, hiểu biết pháp luật có được. Pháp luật là một trong những chuẩn mực, thước đo về sự công bằng; vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ xã hội cụ thể, chủ thể phải biết điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với các quy định của pháp luật. Giáo dục tình cảm trách nhiệm là giáo dục để đối tượng GDPL biết được bổn phận, nghĩa vụ pháp lý của mình, để thực hiện các hành vi sao cho phù hợp với quy định của pháp luật, biết rõ trách nhiệm pháp lý của mình và luôn hoàn thành trách nhiệm đó trong mối quan hệ với các chủ thể khác.